<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Cúng Cô Hồn - Rằm Tháng 7 - Xá Tội Vong Nhân - Lễ Cúng Cô Hồn &#187; lời phật dạy</title>
	<atom:link href="http://cungcohon.com/tag/loi-phat-day/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://cungcohon.com</link>
	<description>cungcohon.com</description>
	<lastBuildDate>Thu, 27 Aug 2015 16:29:16 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Các dục vui ít khổ nhiều</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-cac-duc-vui-it-kho-nhieu.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-cac-duc-vui-it-kho-nhieu.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[an lạc]]></category>
		<category><![CDATA[hạnh phúc]]></category>
		<category><![CDATA[khổ đau]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[sự nguy hiểm]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp chí Văn hóa Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tỷ kheo]]></category>
		<category><![CDATA[vị ngọt]]></category>
		<category><![CDATA[xuất ly]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=17</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là cảm giác thích thú hân hoan hay tâm lý hạnh phúc khi các giác quan của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với các đối tượng cảm quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo hân hoan, thích thú. Trong]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Đức Phật thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là cảm giác thích thú hân hoan hay tâm lý hạnh phúc khi các giác quan của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với các đối tượng cảm quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo hân hoan, thích thú.</p>
<div id="post_body">
<div>Trong Kinh tạng Pàli, có câu nói khá tế nhị nhưng rất thực tế: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn”. Đây là câu nói đúc kết sự chứng nghiệm của đức Phật  về sự thật  khổ đau của cuộc đời, thường được Ngài sử dụng để khuyên nhắc các Tỷ – kheo chế ngự các ham muốn giác quan, sống nếp sống thiếu dục tri túc, không còn bị quay cuồng bởi các động cơ dục lạc, thuận tiện cho việc tu tập hướng đến giải thoát hoàn toàn mọi trói buộc khổ đau.cac-duc-vui-it-kho-nhieu</div>
<div></div>
<div>Đức Phật rất thực tế và khách quan. Phát biểu về nguyên nhân khổ đau và lối sống an lạc, Ngài nêu rõ ba luận đề: Vị ngọt (assàda), sự nguy hiểm (àdìnava), sự xuất ly (nissarana), nói rõ quan điểm của Ngài về cuộc đời và lối sống hạnh phúc minh triết trên cõi đời.</div>
<div></div>
<div>Luận đề thứ nhất – Vị ngọt (assàda): Đức Phật thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là cảm giác thích thú hân hoan hay tâm lý hạnh phúc khi các giác quan của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với các đối tượng cảm quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo hân hoan, thích thú.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//cac-duc-vui-it-kho-nhieu.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Luận đề thứ hai – Sự nguy hiểm (àdìnava): Trong khi thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, Đức Phật cũng thẳng thắn chỉ rõ rằng cuộc đời là nguy hiểm, tức mặt trái của sự hiện hữu. Con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và những gì con người cảm nhận được (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều do duyên sinh, vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Nói khác đi, tất cả mọi thứ trêm cuộc đời này, dù tốt hay xấu, hạnh phúc hay bất hạnh, đều phải thay đổi và không có tính cách trường cửu. Như vậy, sự nguy hiểm ở đây được hiểu theo nghĩa một quy luật tự nhiên, có sinh tức có diệt. Mặt khác, sự nguy hiểm của cuộc đời cũng được thấy rõ bởi lòng tham lam ích kỉ của con người, tức là do khao khát muốn chiếm hữu và thoã mãn các vị ngọt hay lạc thú ở đời mà con người bất chấp đạo lý, rơi vào các hành vi ác, bất thiện như tranh chấp, chiến tranh, xâm lăng, mưu hại lẫn nhau, khiến gây khổ đau cho mình và cho người khác. Đây là những gì đang diễn ra hầu như khắp nơi trên thế giới.</div>
<div></div>
<div>Luận đề thứ ba – Sự xuất ly (nissarana): Từ thực tế này, nghĩa là sự vô thường, nguy hiểm của cuộc đời, Đức Phật nêu luận đề thứ ba, sự xuất ly cuộc đời, nhấn mạnh sự điều phục lòng tham hay dục vọng trên cơ sở thực hành Bát Thánh đạo, tức một nếp sống trung dung tiết độ có khả năng giúp con người  phát huy các năng lực đạo đức tâm linh và trí tuệ để sống an lạc giữa cuộc đời. Sau đâu là toàn bộ lời dạy của Ngài (1):
</div>
<div>
<table>
<tbody>
<tr>
<td> “Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các dục?</p>
<div></div>
<div>Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các sắc pháp do nhãn căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả thức… các  hương do tỷ căn nhận thức… các vị do thiệt căn nhận thức… các xúc do thân căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục như vậy. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các  dục.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các dục?</div>
<div></div>
<div>Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thục hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ – kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả”. Này các Tỷ – kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ – kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?”. Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua. Sát – đế – lỵ tranh đoạt với Sát – đế – lỵ, Bà – la – môn tranh đoạt với Bà – la môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục …(như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn vào nhau, đao được quang ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây, họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục…(như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đáng bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc đầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình… Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa)… chúc thủ hình (đốt tay)… khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)… bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)… linh dương hình (hình phạt con dê núi)… câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)… tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)… khối trấp hình… chuyển hình… cao đạp đài… họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc ở những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do chính dục làm nhân.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ – kheo, thế nào là sự xuất ly các dục? Này các Tỷ – kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục”.</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<div>Chú thích: 1. Đại kinh Khổ uẩn, Trung Bộ.</div>
<div>
<strong>Tâm Thành</strong></div>
<div><strong>Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 71</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-cac-duc-vui-it-kho-nhieu.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật dạy về công ơn sinh thành của cha mẹ</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-ve-cong-on-sinh-thanh-cua-cha-me.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-ve-cong-on-sinh-thanh-cua-cha-me.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[báo hiếu]]></category>
		<category><![CDATA[bất hiếu]]></category>
		<category><![CDATA[cha mẹ]]></category>
		<category><![CDATA[công ơn]]></category>
		<category><![CDATA[kinh A Hàm]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Báo Ân]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Hiếu Tử]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Tâm Địa Quán]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Trường Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Vu Lan Bồn]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[ngũ giới]]></category>
		<category><![CDATA[như lai]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phật pháp]]></category>
		<category><![CDATA[tam Quy]]></category>
		<category><![CDATA[tu học]]></category>
		<category><![CDATA[vu lan]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=10</guid>
		<description><![CDATA[Trong hệ thống giáo điển Phật đà, cả Nam truyền và Bắc truyền đều có những bài kinh, đoạn kinh nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ rất là cảm động. Cũng như có những trang kinh đức Phật chỉ dạy phương pháp báo đáp ân đức sâu dày đối với]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Trong hệ thống giáo điển Phật đà, cả Nam truyền và Bắc truyền đều có những bài kinh, đoạn kinh nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ rất là cảm động.</p>
<div id="post_body">
<div>Cũng như có những trang kinh đức Phật chỉ dạy phương pháp báo đáp ân đức sâu dày đối với song thân một cách thiết thực nhất. Có nghĩa là đức Phật đã chỉ bày cách báo ân chơn chánh, hợp đạo lý, có lợi ích trong hiện đời và mai sau.</div>
<div></div>
<div>Hay nói rõ hơn, đức Phật đã đưa ra tiêu chuẩn đối với một người con được gọi là hiếu đạo thì phải hội đủ cả hai mặt sự và lý. Sự là hình thức báo đáp bên ngoài, là lo lắng, chăm nom phụng dưỡng cha mẹ khỏi mọi điều thiếu thốn về vật chất; luôn tôn trọng kính lễ cha mẹ và không được làm cho cha mẹ phiền lòng. Lý là chăm lo đời sống tâm linh cho cha mẹ. Hướng cha mẹ phát khởi thiện tâm, gieo tạo phước lành, tu theo chánh đạo; là làm sao cho cha mẹ hiểu rõ đường lành, tin sâu nhơn quả, thoát ngoài vòng mê tín, ra khỏi luân hồi nghiệp báo, đạt được an lạc giải thoát trong hiện tại và tương lai.</div>
<div></div>
<div>Nói cách khác, một đời sống hiền thiện chính là hiếu hạnh, là phát tâm báo ân. Còn như làm điều tà ác, không tu dưỡng đạo đức là bất hiếu.</div>
<div></div>
<div>Theo quan điểm của Phật giáo, thiện là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham, không sân, không si, có chánh kiến. Ngược lại là bất thiện. Mà tham, sân, si chính là gốc rễ của bất thiện.</div>
<div></div>
<div>Cho nên người tu học Phật pháp phải thấy rõ điều này để biết cách áp dụng lời Phật dạy vào đời sống sinh hoạt của chính mình, để mỗi ngày bớt tham, sân, si, thăng tiến trên đường đạo. Được như vậy mới thật sự là người con hiếu đạo.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//cong-on-cha-me.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Trong đạo Phật, vấn đề hiếu đạo được đề cập trong nhiều trong Kinh tạng Pali của Phật giáo Nguyên Thủy và Hán tạng của hệ phái Bắc tông như: kinh Trường Bộ, kinh A Hàm, kinh Báo Ân, kinh Vu Lan Bồn, kinh Hiếu Tử, kinh Tâm Địa Quán…</div>
<div></div>
<div>Ở đây, chúng tôi sưu tập lại một số ít trong rất nhiều pháp thoại đức Phật thuyết về công ơn cha mẹ và cách thức đáp đền của con cái đối với cha mẹ hầu chia sẻ cùng các bạn.</div>
<div></div>
<div>Phật dạy:</div>
<div></div>
<div><strong>“Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu</strong></div>
<div><strong>Cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu”.</strong></div>
<div><strong>(Kinh Nhẫn Nhục)</strong></div>
<div></div>
<div>“Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng sinh lang thang trong nẻo luân hồi, bỏ thân này nhận thân khác, sinh đi sinh lại bao lần, sữa mẹ mà chúng ta đã uống còn nhiều hơn nước trong bốn biển”.</div>
<div>(Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“Này các tỳ kheo! Có hai người mà các thầy không thể nào đền ơn cho hết được, đó là cha và mẹ. Nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa ngàn dặm, cung phụng đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn nệm và thuốc thang, thậm chí cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện trên vai đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu cha mẹ. Các thầy phải biết, ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế, mà biết ân đó khó trả. Do vậy, người con hiếu thảo muốn báo đáp công ơn cha mẹ đúng chánh pháp cần phải thực hành những việc sau đây:</div>
<div></div>
<div>- Nếu cha mẹ chưa có niềm tin, phải khuyết khích cha mẹ phát tâm tin tưởng tam bảo.</div>
<div>- Nếu cha mẹ xan tham, phải khuyết khích cha mẹ phát tâm bố thí.</div>
<div>- Nếu cha mẹ theo điều ác, phải khuyết khích cha mẹ hướng về đường thiện.</div>
<div>- Nếu cha mẹ theo tà kiến, phải khuyết khích cha mẹ trở về với chánh kiến.</div>
<div></div>
<div>Làm được như vậy là trả ơn cha mẹ đúng với chánh pháp, khiến cha mẹ không những được an vui trong hiện tại, mà còn gieo phước lành trong tương lai”.</div>
<div>(Kinh Tăng Nhất A Hàm)</div>
<div></div>
<div><strong>“Cung kính và vâng lời cha mẹ.</strong></div>
<div><strong>- Phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu.</strong></div>
<div><strong>- Giữ gìn thanh danh truyền thống gia đình.</strong></div>
<div><strong>- Bảo vệ tài sản cha mẹ để lại.</strong></div>
<div><strong>- Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời”.</strong></div>
<div><strong>(Kinh Trường Bộ)</strong></div>
<div></div>
<div>“Vô thỉ là luân hồi. Này các tỳ kheo, không dễ gì tìm được một chúng sanh trong một thời gian dài này lại không một lần nào làm mẹ, làm cha”.</div>
<div>(Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“Tất cả người nam là cha ta , tất cả người nữ là mẹ ta . Bao nhiêu đời kiếp ta từ đó mà sanh ra , nên chúng sanh trong sáu đường là cha mẹ của ta cả” .</div>
<div>(Kinh Phạm Võng)</div>
<div></div>
<div>“ Này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu người nào biết ơn và đền ơn cho dù ở cách xa Ta ngàn dặm , nhưng ta vẫn xem người đó như đứng hầu gần bên Ta . Còn nếu như người nào không biết ơn và đền ơn , cho dù người đó có đứng hầu gần bên Ta nhưng Ta vẫn xem họ cách xa ngàn dặm”.</div>
<div>(Kinh Tăng Nhất A Hàm)</div>
<div></div>
<div>“ Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ở trong nhà , hãy hiếu dưỡng cha mẹ , vua Phạm Thiên đã có ở trong nhà . Muốn có Đế Thích ở trong nhà , hãy hiếu dưỡng cha mẹ , Đế Thích sẵn ở trong nhà . Muốn được tất cả thiên thần ở trong nhà , chỉ cúng dường cha mẹ , tất cả thiên thần đều ở trong nhà . Cho đến muốn cúng dường Thánh Hiền và Phật , chỉ cúng dường cha mẹ , các vị Thánh Hiền và Phật đều ở trong nhà”.</div>
<div>(Kinh Tạp Bảo Tạng)</div>
<div></div>
<div>“Phật hỏi các Thầy Sa môn: Con nuôi cha mẹ, lấy cam lồ trăm vị làm thức ăn, dùng thiên nhạc làm vui tai, sắm y phục hảo hạng mặc nơi thân, vai cõng cha mẹ đi khắp bốn phương, suốt đời phụng dưỡng như vậy, đáng gọi là hiếu chăng?
</div>
<div>Các Thầy Sa môn thưa: Người này là đại hiếu.
</div>
<div>Phật dạy: Chưa gọi là hiếu.
</div>
<div>Phật bảo các Thầy Sa-môn : Xem người thế gian không có hiếu thảo, chỉ thế này mới gọi là hiếu: Hãy khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, thọ tam Quy giữ ngũ Giới. Dù cha mẹ sớm mai thọ trì quy giới , chiều về cõi chết , đối với ơn nặng cha mẹ nuôi dưỡng , cũng gọi tạm đền”.<br />
(Kinh Hiếu Tử)</div>
<div></div>
<div>Mẹ hiền còn sống là mặt trời giữa trưa chói sáng</div>
<div>Mẹ hiền khuất bóng là mặt trời đã lặn</div>
<div>Mẹ hiền còn sống là mặt trăng sáng tỏ</div>
<div>
<div>Mẹ hiền khuất rồi là đêm tối âm u.</div>
<div>(Kinh Tâm Địa Quán)</div>
</div>
<div></div>
<div>Vui thay hiếu kính Mẹ</div>
<div>Vui thay hiếu kính Cha</div>
<div>Vui thay kính Sa môn</div>
<div>Kính bậc Thánh vui thay.</div>
<div>(Kinh Pháp Cú)</div>
<div></div>
<div>“Có hai hạng người , này các Tỳ kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai. Là mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng cha , một bên vai cõng mẹ, làm vậy cho đến trăm tuổi, nếu đấm bóp, thoa nước tắm rửa , thoa gội , và dầu tại đấy có vãi tiểu tiện , đại tiện như thế , này các Tỳ Kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái , nuôi nấng , nuôi dưỡng con khôn lớn, giới thiệu con vào đời”.<br />
(Kinh Tăng Chi I)</div>
<div></div>
<div>“ Làm con đối với cha mẹ đem chút lễ mọn cúng dường thì được phước vô lượng , trái lại làm ít điều bất thiện đối với cha mẹ tội cũng vô lượng”.</div>
<div>(Kinh Tạp Bảo Tạng)</div>
<div></div>
<div>“ Thế Tôn lấy một ít đất để trên đầu ngón tay rồi hỏi các Thầy Tỳ kheo, đất trên đầu ngón tay ta nhiều hay đất trên quả địa cầu này nhiều?
</div>
<div>Bạch Đức Thế Tôn! Đất trên đầu ngón tay Như Lai so với đất trên quả địa cầu thì quá ít.
</div>
<div>Cũng vậy, này các Tỳ kheo, những chúng sanh hiếu kính với cha mẹ thì quá ít , như đất trên đầu ngón tay của ta, còn những chúng sinh không hiếu kính với cha mẹ lại quá nhiều như đất trên địa cầu”.</div>
<div>(Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“ Những đứa con bất hiếu , sau khi chết bị đọa vào địa ngục A tỳ , lửa dữ thiêu đốt , ăn hoàn sắt nóng , uống nước đồng sôi , gươm đao đâm chém …. ngày đêm chết sống muôn lần , đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây , sự hình phạt tại A tỳ ngục , rất nặng nề ngỗ nghịch song thân”.</div>
<div>(Kinh Báo Hiếu)</div>
<div></div>
<div>“ Ta trong nhiều kiếp quá khứ , nhờ từ tâm hiếu thuận , cúng dường cha mẹ , do công đức đó , nên sinh lên các từng trời thời làm Thiên đế , xuống nhân gian thì làm Thánh Vương”.</div>
<div>(Kinh Hiền Ngu)</div>
<div></div>
<div>“ Thuở Phật còn tại thế có một vị chư Thiên đến hỏi : “ Bạch Đức Thế Tôn , làm sao để có được vận may ?”
</div>
<div>Phật đáp :</div>
<div>“ Phụng dưỡng cha và mẹ là vận may tối thượng”.<br />
(Kinh Hạnh Phúc)</div>
<div></div>
<div>“ Ta trải qua nhiều kiếp tu hành thành đạo là nhờ công ơn của cha mẹ nuôi dưỡng”.</div>
<div>(Kinh Phân biệt)</div>
<div></div>
<div>“ Thờ trời đất quỷ thần không bằng có hiếu với cha mẹ , vì cha mẹ là hai vị thần minh cao nhất trong các thần minh”.</div>
<div>(Kinh Tứ Thập Nhị Chương)</div>
<div></div>
<div>“ Hiếu hạnh đứng đầu trăm hạnh tốt . Hiếu cảm đến trời thì mưa hòa gió thuận , hiếu cảm đến đất thì muôn vật hóa sinh , hiếu cảm đến người thì mọi phúc tăng trưởng”.</div>
<div>(Khế kinh)</div>
<div></div>
<div>“Ơn cha lành như núi Thái , nghĩa mẹ hiền sâu hơn biển cả . Nếu ta ở trong đời một kiếp , nói công ơn cha mẹ không thể hết” .</div>
<div>“Cha mẹ tại tiền như Phật tại thế , gặp thời không có Phật , khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật vậy”.\</div>
<div>(Kinh Tâm Địa Quán)</div>
<div></div>
<div>“Cha mẹ là Phạm Thiên</div>
<div>Bậc đạo sư đời trước</div>
<div>Xứng đáng được cúng dường</div>
<div>Vì thương đến cháu con</div>
<div>Do vậy bậc hiền trí</div>
<div>Đảnh lễ và tôn trọng</div>
<div>Dâng thức ăn nước uống</div>
<div>Vải mặc và giường nằm</div>
<div>Thoa bóp cùng tắm rửa</div>
<div>Với sở hành như vậy</div>
<div>Đời này người hiền khen</div>
<div>Đời sau hưởng Thiên lạc”.</div>
<div>(Kinh Hạnh Phúc)</div>
<div></div>
<div>“Thế Tôn lại bảo A Nan</div>
<div>Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin</div>
<div>Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo</div>
<div>Mười tháng trường chu đáo mọi bề</div>
<div>Thứ hai sanh đẻ gớm ghê</div>
<div>Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần</div>
<div>Điều thứ ba thâm ân nuôi dưỡng</div>
<div>Cực đến đâu, bền vững chẳng lay</div>
<div>Thứ tư ăn đắng uống cay</div>
<div>Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con</div>
<div>Điều thứ năm lại còn khi ngủ</div>
<div>Ướt mẹ nằm khô ráo phần con</div>
<div>Thứ sáu sú nước nhai cơm</div>
<div>Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê</div>
<div>Điều thứ bảy không chê ô uế</div>
<div>Giặt đồ dơ của trẻ không phiền</div>
<div>Thứ tám chẳng nở chia riêng</div>
<div>Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo</div>
<div>Điều thứ chín miễn con sung sướng</div>
<div>Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam</div>
<div>Tính sao có lợi thì làm</div>
<div>Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm</div>
<div>Điều thứ mười chẳng ham trao chuốt</div>
<div>Dành cho con các cuộc thanh nhàn</div>
<div>Thương con như ngọc như vàng</div>
<div>Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái sơn”.</div>
<div>(Kinh Báo Ân)</div>
<div></div>
<div>“ Này các Tỳ Kheo , sữa mẹ mà các Thầy thọ nhận nơi người mẹ từ vô lượng kiếp đến nay còn nhiều hơn nước của đại dương . Quý Thầy nên biết sữa của người mẹ là những giọt máu kết tinh thành những dòng sữa ngọt truyền đạt qua cho con , mỗi ngày đứa con bụ bẫm lớn lên đã rút tỉa tàn phá thân hình của người mẹ khô gầy héo mòn , chết sớm cũng vì con”. (Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“Người con nào giàu có mà không biết hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ đó là cửa ngõ đưa đến bại vong”. (Kinh Đại Vân)</div>
<div></div>
<div>“Người nào muốn báo ơn nghĩa to lớn cả cha mẹ , không có cách nào hơn là phát tâm Bồ đề cầu giác ngộ , rồi tìm cách hướng dẫn người thân của mình và chúng sanh đồng phát tâm Bồ đề , đó là cách báo ân rốt ráo”. (Kinh Phương Tiện Phật Báo Ân)</div>
<div></div>
<div>“ Người con chí hiếu dù có gặp đại nạn như tai trời , ách nước , địa chấn…. sẽ thoát hiểm một cách an toàn. Nếu giàu thì được hưởng trọn vẹn gia tài không bị nghịch cảnh, chướng duyên , nội nghịch ngoại thù , luật vua phép nước , trộm cướp mất mùa… Nếu nghèo thì đời sống trong sạch thanh nhàn, trời người yêu thương, danh thơm xông khắp , không bị cảnh nợ nần khổ sở , ít bịnh tật , được tăng tuổi thọ… Sau khi chết đuợc sanh Thiên”. (Kinh Hạnh Phúc)</div>
<div></div>
<div>“Giữa các loài hai chân</div>
<div>Chánh giác là tối thắng</div>
<div>Trong các loài con cái</div>
<div>Hiếu thuận là tối thắng”.</div>
<div>(Kinh Tăng Chi I)</div>
<div></div>
<div>Như bài viết: “Lời Phật dạy về công ơn cha mẹ“, chúng ta đã thấy đức Phật nói thật cụ thể, rõ ràng về ơn cha nghĩa mẹ và những phương cách báo hiếu thông thường mà ai cũng có thể làm được.</div>
<div></div>
<div>Rất mong rằng tất cả chúng ta đều ghi lòng tạc dạ, luôn nhớ nghĩ đến ân nghĩa sinh thành sâu dày thâm trọng của cha mẹ để tìm cách đáp đền trong muôn một.
</div>
<div><strong>Tâm Chơn</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-ve-cong-on-sinh-thanh-cua-cha-me.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-hay-tu-minh-thap-duoc-len-ma-di.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-hay-tu-minh-thap-duoc-len-ma-di.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[Bà la môn]]></category>
		<category><![CDATA[chánh pháp]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[nghiệp]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp Cú]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[thuyết pháp]]></category>
		<category><![CDATA[tu hành]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=12</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật nhấn mạnh hai điểm, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác. Một lần, khi đức Phật nhuốm bệnh]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Đức Phật nhấn mạnh hai điểm, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.</p>
<div id="post_body">
<div>Một lần, khi đức Phật nhuốm bệnh ở Beluvà, trước sự lo âu buồn khổ của tôn giả Ananda (Trường III, trang 101), và một lần khác, trước tin tôn giả Sàriputta (Xá lợi Phất) đã mệnh chung và trước sự lo âu của tôn giả Ananda (A Nan) (Tương V, 170), đức Phật đã tuyên bố Lời dạy này, vừa là lời chỉ dạy tóm thâu mọi phương pháp tu hành của Ngài được cô đọng lại, và cũng là một lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung, nên có những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình những gì các đệ tử cần phải tu tập, sau khi bậc Ðạo sư viên tịch:</div>
<div></div>
<div>&#8211; &#8220;Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác &#8230;</div>
<div></div>
<div>Này Ananda, ở đời, vị Tỷ kheo trú quán trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trú quán thọ trên các cảm thọ &#8230; trú quán tâm trên các tâm, trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.</div>
<div></div>
<div>Như vậy này Ananda, Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.</div>
<div></div>
<div>Này Ananda, những ai, hiện nay hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi&#8221;.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//205109_263024950489576_1538637857_n.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td> Thắp lên ngọn đèn trí huệ</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Ở đây vì chữ Dipa vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo nên có thể dịch: Tự mình thắp đuốc lên mà đi, hay Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình.</div>
<div></div>
<div>Trong lời dạy đặc biệt quan trọng và hy hữu này, đức Phật nhấn mạnh hai điểm. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.</p>
<p>Chính hai quan điểm này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, chứng đạo của Thế Tôn dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài và cũng gói ghém trọn vẹn tất cả giáo pháp Ngài dạy trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử.</p></div>
<div></div>
<div>Thật vậy, chúng ta thấy rõ, trong hơn sáu năm tầm đạo, hành đạo và chứng đạo, Thế Tôn đã tự mình dùng nỗ lực cá nhân, đã tự mình tự lực tìm đạo, hỏi đạo với hai vị đạo sư ngoại đạo thời danh là Alara Kalama và Uddaka Ràmaputta, đã tự mình tự lực hành trì khổ hạnh, đã tự mình tự lực hành thiền, và cũng tự mình tự lực phát triển trí tuệ và cuối cùng thành đạo dưới gốc cây Bồ Ðề, thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.</p>
<p>Ngài không nhờ một thần lực nào, không phải là hiện thân của một đấng thiêng liêng nào, không phải là hóa thân của một đấng tối cao nào. Ngài chỉ là một người, với sức mạnh thể lực và trí lực của con người, đã tự mình tìm đạo và tìm đạo thành công, đã tự mình hành đạo và hành đạo có kết quả, đã tự mình chứng đạo và chứng đạo hoàn toàn viên mãn, như chúng ta đã thấy rõ trong đời sống của Ngài, nếu chúng ta gạt bỏ qua một bên những thêm thắt về sau để thần thánh hóa đời sống của Ngài.</p></div>
<div></div>
<div>Ngài đã tự lực tìm đạo và học đạo và tự diễn tả như sau:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Không phải chỉ Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ Alara Kalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Alara Kalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ Alara Kalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alara Kalama có tuệ, Ta cũng có tuệ.</p>
<p>Vậy ta phải cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama, sau khi tự tu, tự chứng, tự đạt đã tuyên bố. Rồi này các Tỷ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú&#8221; (Trung I, 164b).</p></div>
<div></div>
<div>Về sau tu khổ hạnh, Ngài cũng tự mình tự hành trì khổ hạnh như Ngài đã tự diễn tả:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Vì Ta ăn quá ít, chân tay Ta đã trở thành như những cọng cỏ, hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, nên bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu &#8230;&#8221; (Trung I, 80).</div>
<div></div>
<div>Ðức Phật sau khi hành trì khổ hạnh không có kết quả. Ngài cương quyết từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu tự mình hành thiền, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, phát triển tuệ trí, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, biết như thật khổ, biết như thật các lậu hoặc, thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.</p>
<p>Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: &#8220;Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa&#8221; (Trung I, 248). Như vậy, cũng với kinh nghiệm bản thân, tự mình từ bỏ khổ hạnh, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ, đức Phật chứng quả Chánh Ðẳng Chánh Giác.</p></div>
<div></div>
<div>Ðối với bậc Ðạo sư đã dựa vào tự lực để tầm đạo, học đạo và chứng đạo, nên trong 45 năm hoằng pháp độ sinh, lời dạy chủ yếu của Ngài cho các đệ tử cũng là lời dạy tự lực tự tri: &#8220;Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác&#8221;.</div>
<div></div>
<div>Trước hết, đức Phật xác nhận &#8220;cầu xin&#8221; và &#8220;ước vọng&#8221; không có lợi gì, không những trên con đường thực hành chánh pháp mà còn cả vấn đề ước vọng thế gian.</div>
<div></div>
<div>Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 nêu rõ:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy.</div>
<div></div>
<div>Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sinh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu.</p>
<p>Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước.</p>
<p>Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì&#8221;.</p></div>
<div></div>
<div>Kinh Tăng Chi IIIA, trang 123 xác chứng thêm sự vô ích của cầu xin và cầu khẩn. Một vị Tỷ kheo không chú tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ, ước muốn ấy nhất định không được toại nguyện.</p>
<p>Như con gà mái có tám, mười hay mười hai trứng gà, nó ấp ngồi không đúng cách, ấp nóng không đúng cách, ấp dưỡng không đúng cách, thời dầu cho con gà ấy có khởi lên ý muốn mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với miệng, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, con gà mái ấy cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì con gà mái không ấp ngồi một cách đúng đắn, không ấp nóng một cách đúng đắn, không ấp dưỡng một cách đúng đắn.</p></div>
<div></div>
<div>Ngược lại, một Tỷ kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu không khởi lên ước muốn: &#8220;Mong rằng tâm Ta được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ&#8221;, tuy vậy tâm vị ấy vẫn được giải thoát không có chấp thủ. Vì cớ sao? Phải nói rằng vị ấy có tu tập. Có tu tập gì? Có tu tập bốn niệm xứ, có tu tập bốn chánh cần, có tu tập bốn như ý túc, có tu tập năm cần, có tu tập năm lực, có tu tập bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.</p>
<p>Ví như con gà mái, có tám, mười hay mười hai trứng. Nó ấp ngồi một cách đúng đắn, nó ấp nóng một cách đúng đắn. Dẫu con gà ấy không khởi lên ước muốn, mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với mỏ, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, các con gà con của nó cũng phá vỏ trứng và thoát ra ngoài một cách an toàn. Như vậy, có ước nguyện hay không ước nguyện không thành vấn đề. Vấn đề chính là có hành động đúng đắn, đúng pháp để đưa đến kết quả mong muốn mà thôi.</p></div>
<div></div>
<div>Một đoạn kinh nữa (Trung I, trang 303) càng nhấn mạnh sự vô ích của cầu xin. Nếu hành Phạm hạnh không chánh đáng, không làm sao đạt được quả vị. Hành Phạm hạnh không chánh đáng ở đây có nghĩa là theo tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Vì cớ sao? Vì đây không phải phương pháp để đạt được quả vị.</p>
<p>Rồi Ðức Phật ví dụ người đi tìm dầu, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước ép cát cho ra dầu, thời dẫu người ấy có ước nguyện tìm cho ra dầu cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì đây không phải là phương pháp tìm ra dầu. Ðức Phật dùng một ví dụ nữa, ý nghĩa hơn, là một người đi tìm sữa, đến một con bò cái, lại nắm lấy cái sừng con bò cái mà vắt sữa, thời dẫu có ước nguyện hay không ước nguyện, nó cũng không lấy được sữa.</p></div>
<div></div>
<div>Trái lại, nếu có vị sa môn hay Bà la môn nào, có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, dù có ước nguyện hay không ước nguyện, hành Phạm hạnh sẽ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Vì đây là phương pháp đạt được quả vị. Ví như một người đi tìm dầu, sau khi để những hột dầu vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép các hột dầu cho ra dầu.</p>
<p>Dù người ấy có ước nguyện hay không ước nguyện, cũng sẽ lấy được dầu. Vì cớ sao? Vì biết phương pháp làm ra dầu. Cũng ví như người đi tìm sữa, đến con bò cái, vắt sữa từ nơi vú con bò mới sanh con, thời dù có ước nguyện hay không ước nguyện cũng tìm ra được sữa.</p></div>
<div></div>
<div>Ðối với sự việc ở đời cũng vậy, không phải do cầu xin, do nhân ước nguyện mà thành tựu. Ðã là người, thường hay mong ước được năm điều khả lạc, khó tìm được ở đời như: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, tiếng đồn tốt, và được sanh cõi trời. Trong Kinh Khả Lạc (Tăng IIB, trang 74), đức Phật nêu rõ năm điều pháp này không do nhân cầu xin, không do nhân ước vọng mà được, vì nếu có do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ở đời này còn có ai héo mòn vì một lẽ gì, khi mà chỉ cầu xin là được toại nguyện.</p>
<p>Ðức Phật nói rất rõ: Muốn có thọ mạng không thể cầu xin thọ mạng hay tán thán thọ mạng để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường đưa đến thọ mạng, đưa đến dung sắc, đưa đến an lạc, đưa đến tiếng đồn tốt, đưa đến sanh thiên, vị ấy mới thành tựu được, mới đạt được năm điều khả lạc mà mình ước muốn ở đời.</p></div>
<div></div>
<div>Trong định nghĩa của Nghiệp và vai trò của nghiệp đức Phật tuyên bố rất rõ chữ Nghiệp (Karma) có nghĩa là hành động, từ động từ Karoti nghĩa là làm, là hành động về thân, về lời và về ý, nhưng hành động ấy phải là hành động có tư tâm sở, tức là một hành động tự ý mình làm, tự mình quyết định làm, không ai xúi giục, không do ai sai bảo.</p>
<p>Vì đã là hành động tự mình ý thức làm, tự mình quyết định làm, nên đức Phật xác định chúng ta là chủ nhân của Nghiệp (Kammassako) chúng ta là thừa tự của Nghiệp (Kamma-dàyadà), chúng ta vừa chịu trách nhiệm những hành động của chúng ta, chúng ta vừa tự mình chịu kết quả các hành động của chúng ta làm. Kinh Pháp Cú nêu rõ:</p></div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//1489284_10151878577124069_842237909_n.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>&#8220;Ðiều ác tự mình làm,</div>
<div>Tự mình sanh, mình tạo,</div>
<div>Nghiền nát kẻ ngu si,</div>
<div>Như kim cương ngọc quý&#8221;. (Pháp Cú 161)</div>
<div></div>
<div>Một câu kệ nữa xác định rõ ràng hơn:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Tự mình, điều ác làm,</div>
<div>Tự mình làm nhiễm ô,</div>
<div>Tự mình ác không làm,</div>
<div>Tự mình làm thanh tịnh,</div>
<div>Tịnh, không tịnh, tự mình,</div>
<div>Không ai thanh tịnh ai&#8221;. (Pháp Cú 165)</div>
<div></div>
<div>&#8220;Tự mình chỉ trích mình,</div>
<div>Tự mình dò xét mình,</div>
<div>Tỷ kheo tự phòng hộ,</div>
<div>Chánh niệm trú an lạc&#8221;. (Pháp Cú 379)</div>
<div></div>
<div>Trong một bài kinh rất có danh tiếng, Kinh Kalamasutta (Tăng I, 213-216), đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài hãy tin ở nơi mình, không tin một ai khác, tin ở nơi khả năng phán xét thiện ác của mình, chớ có tin vào một phương pháp nào khác:</div>
<div></div>
<div>&#8211; &#8220;Này các Kalama, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận, chớ có tin vì nhân suy luận, chớ có tin sau khi suy tư về những dữ kiện, điều kiện, chớ có tin theo thiên kiến, định kiến, chớ có tin vì thấy thích hợp với khả năng, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Ðạo Sư của mình.</p>
<p>Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau: &#8216;Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đết bất hạnh khổ đau. Thời này Kalama, hãy từ bỏ chúng&#8217; &#8230; Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết như sau: &#8216;Các pháp này là thiện. Các pháp này là không có tội. Các pháp này, được người có trí tán thán. Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc, thời này các Kalama, hãy chứng đạt và an trú&#8217;&#8230;&#8221;.</p></div>
<div></div>
<div>Khi đã ý thức được khả năng của mình có thể phân biệt thiện ác, thời Ðức Phật dạy hãy nên tự y chỉ mình, không y chỉ một ai khác, như các bài kệ sau nêu rõ:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Vị du sĩ không tựa,</div>
<div>Không y chỉ một ai,</div>
<div>Không làm thành thương yêu,</div>
<div>Không tác thành ghét bỏ.</div>
<div>Do vậy, trong sầu than,</div>
<div>Trong xan tham keo kiệt,</div>
<div>Như nước trên lá cây,</div>
<div>Không dính ướt làm nhơ&#8221;. (Kinh Tập, câu 811)</div>
<div></div>
<div>&#8220;Ai không tìm lõi cây</div>
<div>Ðối với các sanh y,</div>
<div>Có thể nhiếp phục tham,</div>
<div>Ðối với các chấp thủ</div>
<div>Vị ấy không y chỉ</div>
<div>Không để ai dắt dẫn,</div>
<div>Tỷ kheo ấy chơn chánh,</div>
<div>Du hành ở trên đời&#8221;. (Kinh Tập câu 364)</div>
<div></div>
<div>Nhưng đức Phật có sự thận trọng. Dẫu cho Ngài đã được giải thoát và giác ngộ hơn Ngài, nhưng Ngài vẫn thấy là Ngài cần phải y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Vậy Ta hãy đảnh lễ, cung kính và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn, với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn &#8230; định uẩn &#8230; tuệ uẩn &#8230; giải thoát uẩn chưa được đầy đủ &#8230; nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà la môn, chư Thiên và loài người, không có một Sa môn hay Bà la môn nào khác, với giới, với định, với tuệ và với giải thoát đầy đủ hơn Ta mà Ta có thể cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ. Rồi này các Tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau: &#8216;Với Pháp mà Ta đã chân chính giác ngộ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ Pháp ấy'&#8221;.</div>
<div></div>
<div>Như vậy Ðức Phật với tâm khiêm tốn, muốn tìm một Sa môn hay Bà la môn để nương tựa y chỉ nơi chánh pháp. Ðó là lý do vì sao Ðức Phật lại dạy các Tỷ kheo &#8220;Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (attà-dìpàviharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attà-saranà), chớ y tựa một cái gì khác.</p>
<p>Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác&#8221;. Thái độ này của đức Phật giải thích vì sao Ðức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau khi đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử của đức Phật luôn luôn có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có chánh pháp làm chỗ nương tựa.</p></div>
<div></div>
<div>Trong Tương Ưng III, 51, đức Phật xác định lời khuyên một lần nữa cho các đệ tử của mình lấy chánh pháp làm hòn đảo, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa: &#8220;Hãy sống, tự mìn làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ kheo, hãy nương tựa với chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác&#8221;.</p>
<p>Trong kinh Gopaka Moggallàna, Trung III, trang 111, chúng ta sẽ thấy các đệ tử của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, đã xử sự đúng như lời Ngài dạy. Bà la môn Gopaka Moggallàna hỏi tôn giả Ananda: &#8220;Thưa Tôn giả, có một vị Tỷ kheo nào được Sa môn Gotama sắp đặt: &#8216;Vị này, sau khi Ta diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi và các ngươi sẽ y chỉ vị này?'&#8221;.</p></div>
<div></div>
<div>Tôn giả Ananda trả lời: &#8220;Này Bà la môn không có một vị Tỷ kheo nào được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác sắp đặt: &#8216;Vị này sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi&#8217;, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này.&#8221;</div>
<div></div>
<div>&#8220;Thưa Tôn giả Ananda, có một vị Tỷ kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ kheo Trưởng Lão sắp đặt là vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này?&#8221;.</div>
<div></div>
<div>Tôn giả Ananda trả lời: &#8220;Không có một vị Tỷ kheo nào, này Bà la môn, được chúng tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ kheo Trưởng lão sắp đặt: &#8216;Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi&#8217;, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này&#8221;.</div>
<div></div>
<div>&#8220;Và như vậy là (quý vị) không có chỗ nương tựa. Thưa Tôn giả Ananda, như vậy do nhân gì quý vị có thể hòa hợp?&#8221;.</div>
<div></div>
<div>&#8220;Này Bà la môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà la môn, chúng tôi có chỗ nương tựa. Và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.&#8221;</div>
<div></div>
<div>Lấy Chánh pháp làm chỗ nương tựa, đó cũng chính là lời Phật dạy chúng ta.</div>
<div></div>
<div><strong>Tỳ kheo Thích Minh Châu</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-hay-tu-minh-thap-duoc-len-ma-di.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Phân biệt chính tà</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-phan-biet-chinh-ta.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-phan-biet-chinh-ta.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[Cấp Cô Độc]]></category>
		<category><![CDATA[chính tà]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[mô hình]]></category>
		<category><![CDATA[quảng tánh]]></category>
		<category><![CDATA[thiện ác]]></category>
		<category><![CDATA[tiêu chuẩn]]></category>
		<category><![CDATA[đức thế tôn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=7</guid>
		<description><![CDATA[Cuộc sống luôn luôn bao gồm hai mặt thiện ác và chính tà lẫn lộn. Kỳ vọng về một mô hình hay đoàn thể lý tưởng, thuần thiện ở thế gian là điều không thể. Nên phải quan sát cuộc sống thật kỹ càng để phân biệt rõ người nào là thiện, kẻ nào là]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Cuộc sống luôn luôn bao gồm hai mặt thiện ác và chính tà lẫn lộn. Kỳ vọng về một mô hình hay đoàn thể lý tưởng, thuần thiện ở thế gian là điều không thể. Nên phải quan sát cuộc sống thật kỹ càng để phân biệt rõ người nào là thiện, kẻ nào là ác; việc gì là chính, việc gì là tà để rồi từ đó có ứng xử thích hợp.</p>
<div id="post_body">
<div>Để phân biệt thiện ác, chính tà dĩ nhiên là điều không phải dễ dàng. Đối với những người khéo che giấu hay giỏi ngụy trang sự thật của bản thân thì lại càng khó phân biệt hơn. Dù vậy, nếu ta chịu khó quan sát các “tướng trạng” của họ thì cũng có thể nhận ra những dấu hiệu của chính tà. Bởi “tướng tự tâm sinh”, ngôn ngữ và hành vi của cá nhân luôn phản ánh bản chất thiện ác và chính tà của họ.<br />
<center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//chuabavang-com-vn_images_Gallery_chuabavang_Gallery_full_07482012_0948364.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center>“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:</p>
<p>&#8211; Nếu có người ở trong nhóm tà thì có tướng trạng gì, có nhân duyên gì?</p>
<p>Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:</p>
<p>&#8211; Như Lai là vua của các pháp, là bậc Chí tôn của các pháp. Lành thay Thế Tôn! Nên thuyết nghĩa này cho các Tỳ-kheo. Chúng con nghe rồi sẽ vâng làm.</p>
<p>Thế Tôn dạy:</p>
<p>&#8211; Các Thầy khéo suy nghĩ. Ta sẽ vì các Thầy phân biệt nghĩa này.</p>
<p>Các Tỳ-kheo đáp:</p>
<p>&#8211; Xin vâng, Thế Tôn!</p>
<p>Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn dạy:</p>
<p>&#8211; Người ở nhóm tà sẽ do năm việc mà biết. Đã thấy năm việc thì biết người này ở nhóm tà. Thế nào là năm? Đáng cười mà không cười, lúc đáng hoan hỷ mà không hoan hỷ, đáng khởi tâm từ mà không khởi tâm từ, làm ác mà không xấu hổ, nghe lời lành mà không để ý. Nên biết người này ở nhóm tà. Nếu có chúng sinh ở nhóm tà, nên dùng năm việc mà biết.</p>
<p>Lại nữa, có chúng sinh ở trong nhóm chính, có tướng trạng gì, có nhân duyên gì?</p>
<p>Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:</p>
<p>&#8211; Như Lai là vua các pháp, là bậc Chí tôn của các pháp. Cúi mong Thế Tôn hãy thuyết nghĩa này cho các Tỳ-kheo. Chúng con nghe xong sẽ vâng làm.</p>
<p>Thế Tôn dạy:</p>
<p>&#8211; Các Thầy khéo suy nghĩ! Ta sẽ vì các Thầy phân biệt nghĩa này.</p>
<p>Các Tỳ-kheo đáp:</p>
<p>&#8211; Xin vâng, Thế Tôn!</p>
<p>Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:</p>
<p>&#8211; Người ở nhóm chính, sẽ do năm việc mà biết. Đã thấy năm việc thì biết người này trụ ở nhóm chính. Thế nào là năm? Đáng cười thì cười, đáng hoan hỷ thì hoan hỷ, đáng khởi tâm từ thì khởi tâm từ, đáng xấu hổ thì xấu hổ, nghe lời lành thì để ý. Nên biết người này đã ở nhóm chính, trụ ở nhóm chính. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.</p>
<p>Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.</p>
<p>(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm Tà tư, VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.357)</p>
<p><strong>Lời bàn: </strong></p>
<p>Lời Phật chỉ dạy thật rõ ràng: “Đáng cười mà không cười, lúc đáng hoan hỷ mà không hoan hỷ, đáng khởi tâm từ mà không khởi tâm từ, làm ác mà không xấu hổ, nghe lời lành mà không để ý. Nên biết người này ở nhóm tà”. Đây là năm tiêu chuẩn quan trọng để chúng ta thẩm định về một người là chính hay tà. Đó cũng là năm tiêu chuẩn để tự mình thẩm định chính mình.</p>
<p>Cuộc sống luôn biến động, thân tâm luôn vô thường, ranh giới giữa chính tà đôi khi lại rất nhạy cảm và mong manh. Dù lúc nào ta cũng nhân danh (hoặc tự nghĩ) mình là người của chính phái, là đại sứ của thiện lành nhưng thực tế thì không hẳn như vậy. Nên điều cần thiết là luôn lấy năm tiêu chuẩn của Thế Tôn để kiểm tra chính mình nhằm tự điều chỉnh và hoàn thiện lấy bản thân mình.</p>
<p>Ta là ai, chính hay tà, tự mình biết và chắc chắn mọi người đều biết. Nên cải tà quy chính, bỏ ác làm lành là việc cần thực thi trong đời sống của những người con Phật.</p>
<p><strong>Quảng Tánh</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-phan-biet-chinh-ta.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
