<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Cúng Cô Hồn - Rằm Tháng 7 - Xá Tội Vong Nhân - Lễ Cúng Cô Hồn &#187; đức phật</title>
	<atom:link href="http://cungcohon.com/tag/duc-phat/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://cungcohon.com</link>
	<description>cungcohon.com</description>
	<lastBuildDate>Thu, 27 Aug 2015 16:29:16 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>7 điều triết lý chia sẻ khi lâm bệnh</title>
		<link>http://cungcohon.com/7-dieu-triet-ly-chia-se-khi-lam-benh.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/7-dieu-triet-ly-chia-se-khi-lam-benh.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đời Sống Phật Tử]]></category>
		<category><![CDATA[hạnh phúc]]></category>
		<category><![CDATA[nghiệp]]></category>
		<category><![CDATA[nguyên tắc]]></category>
		<category><![CDATA[nội tâm]]></category>
		<category><![CDATA[quy luật]]></category>
		<category><![CDATA[sinh hoạt]]></category>
		<category><![CDATA[tâm lý]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp chí Nghiên cứu Phật học]]></category>
		<category><![CDATA[vô thường]]></category>
		<category><![CDATA[đạo phật]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=25</guid>
		<description><![CDATA[Sinh-lão-bệnh-tử (đạo Phật gọi là sinh-trụ-hoại-diệt) là một quy luật của tạo hóa, vì thế bệnh là một hiện tượng không thể tránh khỏi, đã mang thân người là có bệnh. Mỗi chúng ta có thể trải qua một hay nhiều căn bệnh, không lúc này thì khi khác, không nặng thì nhẹ. Nếu ai]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Sinh-lão-bệnh-tử (đạo Phật gọi là sinh-trụ-hoại-diệt) là một quy luật của tạo hóa, vì thế bệnh là một hiện tượng không thể tránh khỏi, đã mang thân người là có bệnh.</p>
<div id="post_body">
<div>Mỗi chúng ta có thể trải qua một hay nhiều căn bệnh, không lúc này thì khi khác, không nặng thì nhẹ.</div>
<div></div>
<div>Nếu ai chưa một lần mắc bệnh thì đó là một hạnh phúc lớn. Nhưng ít ra, người đó cũng chứng kiến người thân của mình bị bệnh và tin chắc rằng, đến một lúc nào đó, mình cũng bị bệnh.</div>
<div></div>
<div>Bệnh là một hiện tượng rất gần gũi với con người mà chúng ta ít nhiều đều đã hoặc sẽ trải qua. Nói đến bệnh, ai cũng có thể nghĩ đến sự đau đớn, khổ sở, buồn bã, lo âu, sợ hãi… và vô số những tâm lý tiêu cực khác. Hễ bệnh là đau. Điều này không ai phủ nhận. Nhưng điều quan trọng là làm thế nào, dù đau (về thân), chúng ta đừng khổ (về tâm). Khi hiểu cuộc đời này là Vô thường theo giáo lý nhà Phật, nhất là đạo Phật lại là đạo Tâm, đạo Từ bi, thì chúng ta sẽ có cách nhìn khác bình tĩnh hơn, đỡ bi quan hơn khi đang mang bệnh hoặc phải sống chung với bệnh.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//7dieuchiasekhilambenh.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div><strong>Xin chia sẻ đôi điều sau đây cùng Quý Bạn đọc:</strong></div>
<div></div>
<div>1. Bệnh là cơ hội để nhận biết tín hiệu cơ thể. Khi bạn bị một chứng bệnh nào đó, bạn đừng vội buồn phiền và suy sụp tinh thần, thấy mình bất hạnh so với nhiều người khác. Bởi bệnh là một hiện tượng tất yếu phải đến một khi chúng ta mang thân làm người, nên việc nó đến với người này, chưa đến với người kia, chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.</div>
<div></div>
<div>Hãy coi bệnh là cơ hội để mình tiếp nhận tín hiệu của cơ thể báo cho mình biết có gì đó không ổn trong cơ thể. Ví dụ, khi thấy tức ngực, bạn biết cần phải đến bác sĩ  khám bệnh để tránh hoặc chữa chứng bệnh mạch vành của tim.</div>
<div></div>
<div>Nếu chúng ta biết cách lắng nghe cơ thể để kịp thời nhận ra những thay đổi của cơ thể để có phương pháp xử lý phù hợp, chúng ta đã phần nào biết giữ gìn sức khỏe và đem lại niềm vui cho bản thân và gia đình.Một số bệnh hiểm nghèo, như ung thư, vẫn có khả năng chữa trị nếu được phát hiện ở thời kỳ đầu. Các bệnh khác cũng vậy. Do đó, sẽ không có gì đáng buồn khi chúng ta thấy cơ thể không ổn. Thay vào đó, chúng ta nên vui, nếu không vui thì cũng bình tâm, vì ít ra, mình đã nhận được tín hiệu cảnh báo của cơ thể để biết cách phòng ngừa (điều chỉnh chế độ sinh hoạt và ăn uống cho phù hợp với cơ địa mình) hoặc đến bác sĩ khám để chữa trị một că bệnh nào đó…</div>
<div></div>
<div>2. Bệnh là dấu hiệu báo cho bạn biết rằng bạn cần điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt để nâng cao sức khỏe. Thông thường, khi biết mình có bệnh, chúng ta thường dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực. Bản năng sinh tồn thôi thúc con người muốn sống, nên khi mắc bệnh thì tinh thần suy sụp, buồn chán. Ai có tâm lý như thế có nghĩa là đang góp phần đáng kể vào việc hủy hoại thân thể mình và làm cho bệnh càng trầm trọng thêm mặc dù có sự can thiệp của các phương pháp trị liệu.</div>
<div></div>
<div>Rất nhiều chứng bệnh và cơn đau phát sinh do tâm lý căng thẳng. Các bệnh về tim mạch, huyết áp, dạ dày đều có liên quan đến tình trạng rối loạn tâm lý. Tâm lý không ổn định và mất cân bằng là một trong những nguyên nhân rất dễ làm rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể và gây nên bệnh. Do vậy, khi có bệnh, chúng ta cần nghỉ ngơi nhiều hơn, sinh hoạt điều độ, tránh lo nghĩ căng thẳng. Làm như vậy sẽ giúp cơ thể mau lành bệnh.</div>
<div></div>
<div>3. Khi bệnh đến, chúng ta thấy nhu cầu chăm sóc tâm thức và đời sống tinh thần nhiều hơn. Lúc đang mạnh khỏe, nhiều người thường chủ quan làm việc quá sức, phung phí sức khỏe, ít quan tâm đến đời sống nội tâm. Khi bị bệnh mới thấy đời sống tâm linh cũng quan trọng lắm, thế là quay về với đời sống tâm linh nhiều hơn, đi chùa lễ bái, cầu xin…</div>
<div></div>
<div>Một điều ít người nhận ra là khi có bệnh, nếu tinh thần mình vững vàng, tâm mình bình tĩnh không sợ hãi thì có cảm giác ít đau đớn hơn. Nghĩa là, thân bệnh thì thân đau, nhưng tâm không đau, không vì thân đau mà tâm phải khổ. Thật ra, khi thân đau, cũng chỉ có một vài bộ phận của cơ thể đau mà thôi. Nếu “mở rộng” nỗi đau ra toàn thân và lan đến cả tâm thì đó lại là một “căn bệnh” khác nan giải hơn cả bệnh lâm sàng mình đang mắc phải. Khi chúng ta để cái khổ của tâm gắn với cái đau của thân, thì cái đau khổ ấy nhân lên gấp đôi, sẽ thống thiết và nhức nhối vô cùng!</div>
<div></div>
<div>4. Bệnh nhắc chúng ta nhớ đến giáo lý của đức Phật, coi cuộc đời là vô thường. Sinh – lão &#8211; bệnh…rồi đến cuối chặng đường của một kiếp người là chết. Các giai đoạn này là quy luật diễn ra liên tục trong con người và mọi loài mọi vật.  Một khi bị bệnh, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang ở giai đoạn nào của đời người!</div>
<div></div>
<div>Ý thức về sự Vô thường của cuộc đời giúp chúng ta biết cách sử dụng và quản lý thời gian của bản thân, và điều chỉnh các mối quan hệ với những người xung quanh để có một cuộc sống thoải mái hơn, ý nghĩa hơn. Chỉ có những người trải qua cơn bạo bệnh mới hiểu được trọn vẹn sức khỏe “quý hơn vàng”, để rồi sau đó, họ không phung phí tài sản ấy.</div>
<div></div>
<div> 5. Bệnh làm cho chúng ta tăng thêm tâm từ bi. Khi ta có bệnh, ta mới thấu hiểu nỗi đau của người khác nhiều hơn, nhất là những người mắc bệnh giống mình hoặc bệnh nặng hơn mình. Người xưa nói “đồng bệnh tương liên” (liên cũng có khi đọc là lân có nghĩa là thương xót), ý nói: “Cùng bị bệnh, cùng ở một hoàn cảnh giống nhau thì dễ thông cảm với nhau”, quả không sai. Trong đau đớn, chúng ta cảm thấy mình không đơn độc chống chọi với  bệnh tật. Nghĩ đến những người cùng chịu nỗi đau giống mình hoặc hơn mình, chúng ta dễ dàng trải lòng thương yêu đến cả  những người không quen biết đó.</div>
<div></div>
<div>Tâm đồng cảm, và chia sẻ với những người cùng bị bệnh có ý nghĩa rất lớn. Nếu chúng ta nuôi dưỡng tâm lành này, tức là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi của đức Phật. Nhờ đó, chúng ta sẽ có những hành động tích cực và thiết thực góp phần giúp người bệnh vơi nhẹ nỗi đau bệnh tật. Thực tế, khi chứng kiến bệnh tật, thân nhân người bệnh cũng mở rộng tấm lòng và sự thông cảm đối với  người bệnh.</div>
<div></div>
<div>6. Bệnh giúp chúng ta nuôi dưỡng tâm khiêm nhường và biết đủ. Khi bệnh đến, chúng ta mới sực nhớ ra rằng cuộc đời mình không phải là không có giới hạn. Khi bản thân mình hay người thân bị bệnh, chúng ta mới kịp nhận ra, ai cũng chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên: sinh-lão-bệnh-tử.</div>
<div></div>
<div>Ý thức rằng mình không hơn gì người khác, ít nhất là trong quy luật tự nhiên này, giúp chúng ta có thể bớt đi lòng tham cầu hoặc sân hận một cách đáng kể. Qua một lần bệnh, giúp chúng ta biết cách tổ chức cuộc sống của mình hiệu quả hơn và tốt hơn, giúp chúng ta biết sống nhân ái hơn.</div>
<div></div>
<div>7. Bệnh giúp chúng ta có thêm ý chí và nghị lực để chống chọi với bệnh tật. Ý chí và nghị lực là kỹ năng sống cần được rèn luyện trong nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Thế thì tại sao mình bỏ qua cơ hội bệnh để rèn luyện kỹ năng này?</div>
<div></div>
<div>Bệnh là một hiện tượng nằm ngoài ý muốn của con người. Những điều chia sẻ nói trên, trong đó có sự liên hệ với giáo lý nhà Phật, chỉ là một vài “liệu pháp” hỗ trợ các trị liệu y khoa, làm cho bệnh mau lành và giúp người bệnh không hao tổn quá nhiều năng lượng để “chống chọi” với bệnh.</div>
<div></div>
<div>Nguyên tắc chung để chịu đựng và sống chung với bệnh (đối với các bệnh mãn tính và những thương tật vĩnh viễn do tai nạn) là khi thân đau, đừng để tâm khổ vì cái đau của thân.</div>
<div></div>
<div>Hãy coi bệnh như một “vị khách không mời” mà đến, và đối xử lịch sự với nó. Đừng xua đuổi vì một khi bị xua đuổi, nó sẽ kháng cự. Việc chúng ta cần làm là tạo một môi trường thích hợp nhất để nó tự ra đi. Hãy buông bỏ nó và xả hết mọi phiền não do nó gây ra, chắc chắn đến một ngày nào đó, nó sẽ tự ra đi không một lời từ biệt!</p>
<p><strong>Vũ Tất Tiến</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/7-dieu-triet-ly-chia-se-khi-lam-benh.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Nguyên nhân đức Phật chế Giới Luật</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-nguyen-nhan-duc-phat-che-gioi-luat.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-nguyen-nhan-duc-phat-che-gioi-luat.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[chúng sinh]]></category>
		<category><![CDATA[giác ngộ]]></category>
		<category><![CDATA[giải thoát]]></category>
		<category><![CDATA[giới luật]]></category>
		<category><![CDATA[hành trì]]></category>
		<category><![CDATA[kinh di giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phạm hạnh]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phật pháp]]></category>
		<category><![CDATA[thành đạo]]></category>
		<category><![CDATA[trí tuệ]]></category>
		<category><![CDATA[tu hành]]></category>
		<category><![CDATA[đạo hạnh]]></category>
		<category><![CDATA[đạo phật]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>
		<category><![CDATA[đức thế tôn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=15</guid>
		<description><![CDATA[“Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>“Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí tuệ”.</p>
<div id="post_body">
<div>Đức Thế Tôn đã là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm bất cứ việc gì cũng cẩn thận chu đáo, không sơ sót dù là một chuyện nhỏ. Trong 12 năm đầu khi giáo đoàn thành lập chúng tăng hầu hết phần đông là căn cơ trình độ giáo pháp cao siêu là những bậc thánh A- la- hán, thành phần tu tập đoạn dứt lậu hoặc. Những vị căn cơ còn thấp kém chỉ nghe đức Thế Tôn khai thị vài lần liền chứng ngộ. Vì thế nếp sống của chư Tăng thuở ấy hoàn toàn thanh tịnh. Tuy đức Thế Tôn chưa chế Giới luật nhưng Giới vẫn có, chỉ giới hạn được trình bày dưới dạng những hình thức đơn giản tổng quát về mặt hộ trì các căn.</div>
<div></div>
<div>Thế Tôn dạy: “Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, mũi ngửi hương, thân xúc chạm, ý duyên pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, cũng không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho các căn không được duyên theo, không bị sinh tâm tham ái, ưu bi và các bất thiện pháp khởi lên, nếu có khởi lên Tỳ kheo liền chế ngự nguyên nhân ấy sống thực hành hộ trì các căn”.
</div>
<div>Đức Thế Tôn thực hành qua giai đoạn thực hành Trung Đạo Đế, hành Bát chánh đạo dưới hình thức, Tỳ kheo nên giữ Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Qua sự trình bày như trên chúng ta thấy Giới luật tuy có mà chưa rõ ràng.<br />
<center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//duc-Phat-132.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Trong Ngũ Phần Luật quyển 1, Ngài Xá Lợi Phất trình thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn làm sao để Chánh Pháp của đức Như Lai, sau khi Như Lai diệt độ rồi Chánh Pháp ấy được tồn tại lâu dài”.
</div>
<div>Thế Tôn dạy: “Đức Phật nào mà có nói giới nói pháp thì chúng đệ tử nhờ đó để tu hành, làm cho Chánh Pháp được cửu trụ lâu dài”.
</div>
<div>Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch Thế Tôn tại sao con không thấy Thế Tôn chế giới mà chỉ nói Pháp?”
</div>
<div>Đức Phật nói: “Này Tôn giả, ta biết thời phải làm gì, nay chưa đến thời ta chưa chế giới. Khi nào trong Tăng chúng có việc vì danh lợi, vì hữu lậu xảy ra thì Như Lai mới chế giới”.</div>
<div>
Ngài còn dạy rằng : “Nếu Ta chế Giới trước khi vi phạm, thì người đời sẽ phỉ báng ta. Họ sẽ bảo rằng tôi không có gây tội, sao lại cưỡng chế ra Giới luật. Đây không phải là nhất thiết trí. Như thế là Như Lai không có tâm từ bi, không lợi lạc, không bảo bọc chúng sanh. Như người không có con lại nói rằng sẽ sanh con vào giờ ấy. Chuyện ấy không thể tin, vì không chân thật. Nếu là sự thấy đứa con người ta mới tin được, cũng thế hữu lậu chưa sanh, tội chưa làm, trời người chưa thấy làm sao chế Giới được. Cho nên cần phải thấy rõ phạm tội, rồi sau đức Thế Tôn mới chế Giới, đây là đúng thời. Này Xá Lợi Phất như y sĩ biết là nguyên nhân tật bịnh và biết thuốc nào ngọt để trị bịnh ấy”.
</div>
<div>Từ đó, dần dần về sau trong Giáo đoàn Tăng sinh các hữu lậu với mục đích tâm họ không chân chánh. Do đó tăng đoàn đã xảy ra nhiều trường hợp nhiều Tỳ kheo thiếu kỷ cương nề nếp, đời sống buông lung phóng túng, vi phạm tịnh hạnh … khiến cho Giáo đoàn của Phật bị mang tiếng xấu lây, lại có nhiều ý kiến mâu thuẫn. Để giải quyết những vấn đề đó, Thế Tôn bắt đầu chế Giới để đối trị những lỗi lầm đã xảy ra, ngăn ngừa hành vi bất thiện pháp sắp vi phạm hay đã phạm thì phải sám hối, đồng thời duy trì uy tín của Tăng đoàn.
</div>
<div>Giới luật được đức Thế Tôn chế vào khoảng năm thứ 13 sau khi đức Phật thành đạo, nhưng tùy phạm tùy kiết, những Giới không nhất định phải chế Giới từ 3 &#8211; 4 lần mới thành một Giới. Đây là một trường hợp điển hình nói lên tính linh động và tầm mở rộng của Giới Luật. Trường hợp khác điển hình giới dâm, phải trải qua ba giai đoạn mới thành:
</div>
<div>- Giai đọan thứ nhất : Tôn Giả Tu Đề Na con trai của thôn trưởng Ca Lan Đa, do sự yêu cầu của người mẹ phải để lại đứa con trai để nối dõi tông đường, nên Tôn giả đã hành dâm với người vợ cũ. Sau sự việc xảy ra Tôn Giả bị lương tâm cắn rứt, cảm thấy hổ thẹn với những Tỳ kheo thanh tịnh nên thú nhận tội với chư  Tăng, chư Tăng bạch Phật, Phật quở trách rồi chế giới: “Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được ở chung”.
</div>
<div>- Giai đoạn thứ hai : Một Tỳ kheo chán nản đời sống phạm hạnh, về nhà hành dâm với vợ cũ. Vì trong Giới Phật chế không cho trường hợp chán nản đời sống phạm hạnh. Do đó, Thế Tôn chế thêm “Tỳ kheo nào đã trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo, chưa hoàn giới sút kém nhưng không phát lồ, hành dâm dục Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
</div>
<div>- Giai đoạn thứ ba : Một Tỳ kheo sống trong rừng, bị thiên ma nhiễu loạn, nên đã hành dâm với con vượn cái. Nghĩ rằng Giới luật đức Thế Tôn dạy không có trường hợp cùng với loài súc sanh, thêm lần nữa Đức Thế Tôn bổ túc thêm Giới trên cho đầy đủ “Tỳ kheo nào đã thọ trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo chưa hoàn giới, giới sút kém những không phát lồ mà hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
</div>
<div>Đức Thế Tôn thị hiện trên cõi đời vị mục đích giải thoát chúng sanh ra khỏi dòng sanh tử, nên Giới luật của Ngài không có tính cách cưỡng chế, bó buộc mà hoàn toàn vì an lạc của chúng đệ tử. Chính nhờ những Giới pháp đó mà Đức Thế Tôn đã tu hành đạt thành Chánh giác và đem sự sáng suốt truyền lại cho chúng sanh coi như Giới thân Huệ mạng của chính mình. Bởi thế trước khi nhập Niết Bàn, đức Thế Tôn đã ân cần Di giáo: “Sau khi ta diệt độ, các ngươi phải tôn trọng giữ gìn Ba-la-đề-mộc-xoa, như người nghèo gặp được của báu, như qua sông đặng ghe, như người bệnh gặp thầy thuốc v.v… phải biết pháp này là Thầy của các ngươi, dù ta có trụ thế cũng không ngoài pháp ấy”. Tinh thần của đức Phật chế giới nhìn trên bề mặt là ý của đại chúng trong Tăng đoàn, Đức Phật chỉ là người chủ trì hoặc là người chứng minh trong quá trình chế giới. Giới là phương thuốc phòng ngừa sự hư đốn của đại chúng. Đức Phật là vị thầy thuốc chữa bệnh cho chúng sanh, nếu người không bệnh mà ra toa bốc thuốc thì người ấy sẽ phản kháng, họ sẽ nhất định không chịu, còn người mắc bệnh nếu được trị liệu họ sẽ cảm kích vô cùng, đây là tâm lý thông thường của mọi chúng sanh.
</div>
<div>Như chúng ta nhận xét qua lời giải trong các kinh đức Thế Tôn giảng dạy xong lại nói rằng: “Tất cả pháp ta nói ra chỉ là phương tiện khi tu hành xong hãy buông bỏ”. Còn đang thời tu hành dù hành giả tu pháp nào đi nữa phải lấy Giới luật làm đầu để giữ gìn phạm hạnh. Nếu hành giả đang thời hành đạo Giới thể đã mất, thời Giới thân Huệ mạng cũng không còn.</div>
<div></div>
<p><strong>Thích Nữ Tâm Thư</strong></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-nguyen-nhan-duc-phat-che-gioi-luat.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Sống đạo đức hưởng hạnh phúc</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-song-dao-duc-huong-hanh-phuc.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-song-dao-duc-huong-hanh-phuc.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[an lạc]]></category>
		<category><![CDATA[Bà la môn]]></category>
		<category><![CDATA[chân thật]]></category>
		<category><![CDATA[chánh đạo]]></category>
		<category><![CDATA[gia chủ]]></category>
		<category><![CDATA[hạnh phúc]]></category>
		<category><![CDATA[hiền lành]]></category>
		<category><![CDATA[lời dạy]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp chí Văn hóa Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tỳ kheio]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=18</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật chân thật và hiền lành nên khuyên dạy những điều rất chân thật, hiền lành. Phật đến với đời kêu gọi đức tính chân thật và khuyến khích nếp sống hiền lành. Phật khuyên mọi người sống chân chánh, hiền lương để hưởng hạnh phúc đời này và an lạc đời sau. Suốt]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Đức Phật chân thật và hiền lành nên khuyên dạy những điều rất chân thật, hiền lành. Phật đến với đời kêu gọi đức tính chân thật và khuyến khích nếp sống hiền lành.</p>
<div id="post_body">
<div>Phật khuyên mọi người sống chân chánh, hiền lương để hưởng hạnh phúc đời này và an lạc đời sau. Suốt cuộc đời mình, Phật đi hết làng này đến làng khác, hết thị trấn này đến thị trấn khác, hết quốc độ này đến quốc độ khác để khuyên mọi người bỏ ác làm lành, sống tiết độ, chân thực, không gian dối, sống từ tâm và hòa bình. Phật sống chân thật hiền lành và khuyên dạy những điều rất chân thật nên ai cũng mong muốn được diện kiến và lắng nghe Phật.</div>
<div></div>
<div>Một hôm, Phật đang tu hành trong nước Kosala (Kiều tất la) cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Losala tên là Sa-la. Các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la hay tin: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong nước Kosala với đại chúng Tỳ-kheo, và đã đến Sa-la …”. Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la đi đến chỗ Phật ở, sau khi đến, một số đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên…Sau khi ngồi xuống một bên, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Phật.(1)</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//Monks_oil_painting.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>“Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiện giới, đời này?</div>
<div></div>
<div>- Này các Gia chủ, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các gia chủ, mà ở đây có một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh thiện thú, Thiên giới, đời này.</div>
<div></div>
<div>Chúng con không thể hiểu những gì đầy đủ Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt nếu không được giải thích rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng con để chúng con hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt.</div>
<div></div>
<div>- Vậy này các Gia chủ, hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.</div>
<div></div>
<div>Thưa vâng, Tôn giả.</div>
<div></div>
<div> &#8211; Này các Gia chủ, có ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có bốn loại khẩu hành đúng chánh pháp, đúng chánh đạo, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành đúng pháp, đúng thánh đạo?</div>
<div></div>
<div>Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loại hữu tình; từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; từ bỏ sống theo tà hạnh với các dục; không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chỏ, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Và này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo?</div>
<div></div>
<div>Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng tôi, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi:”Này người kia, hãy nó những gì ông biết”; nếu biết người ấy nói “Tôi biết”; nếu không biết, người ấy nói:”Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nó:”Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy, không trở thành cố ý vọng ngữ; hoạc vì nguyên nhân tự kỷ, hoạc vì nguyên nhân tha thân, hoặc gì nguyên nhân một vài quyền lời gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ  này, không đi đến chỗ kia nó để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những người ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ những lời độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nó thuận lợi, có mạch lạc, hệt thống, có ích lợi. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành động đúng chánh đạo?</div>
<div></div>
<div>Ở đây, này các Gia chủ, có người không có tham ái, không tham ái tài vật của kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình”. Lại có người không có tâm sân, không có khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Người ấy có chánh kiến, không có tướng điên đảo:”có bố thí, có kết quả của bố thí, có tế lễ, có cúng dường, các hành vi thiện ác, có kết quả dị thục, , có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời, có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân thành thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo.</div>
<div></div>
<div>Như vậy, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiện giới, đời này.</div>
<div></div>
<div><strong>Nguyên Huy</strong></div>
<div><strong>Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 64 năm 2008</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-song-dao-duc-huong-hanh-phuc.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Giới luật là nguồn sinh lực của Tăng già</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-gioi-luat-la-nguon-sinh-luc-cua-tang-gia.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-gioi-luat-la-nguon-sinh-luc-cua-tang-gia.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[chủ tịch]]></category>
		<category><![CDATA[giác ngộ]]></category>
		<category><![CDATA[giáo hội]]></category>
		<category><![CDATA[giới luật]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồng trị sự]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đạo phật]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=19</guid>
		<description><![CDATA[Để bảo hộ sự thanh tịnh, hòa hợp trong Tăng  đoàn và giữ gìn bản thể Tỷ kheo không cho hư hủy đồng thời để tránh sự chê bai của người thế tục, tránh gây mất niềm tin Tam bảo của tín thí, Đức Phật đã tuyên bày giới luật. Giới luật có công năng]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Để bảo hộ sự thanh tịnh, hòa hợp trong Tăng  đoàn và giữ gìn bản thể Tỷ kheo không cho hư hủy đồng thời để tránh sự chê bai của người thế tục, tránh gây mất niềm tin Tam bảo của tín thí, Đức Phật đã tuyên bày giới luật.</p>
<div id="post_body">
<div>Giới luật có công năng dứt trừ nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sanh tử. Không chỉ thọ hưởng phước lành ở vị lai mà ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm cẩn thì cuộc sống sẽ an vui, thân tâm luôn thanh thản.</div>
<div></div>
<div><strong>Kinh Trường Bô có nêu ra 5 lợi ích của việc giữ gìn giới luật như sau:</strong></div>
<div></div>
<div>1. Người có giới đức sẽ hưởng được gia tài pháp bảo nhờ tinh tấn.</div>
<div></div>
<div>2. Người có giới đức được tiếng tốt đồn xa.</div>
<div></div>
<div>3. Người có giới đức không sợ hãi rụt rè khi đến các hội chúng đông đúc.</div>
<div></div>
<div>4. Người có giới đức khi chết tâm không rối loạn.</div>
<div></div>
<div>5. Người có giới đức sau khi mạng chung được sinh về thiện thú, thiên giới.</div>
<div></div>
<div>Đức Phật thiết lập giới bổn không ngoài mục đích muốn kiện toàn bản thể thanh tịnh Tỷ kheo và trang nghiêm hòa hợp Tăng đoàn.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//tangia.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td> Giới luật là nguồn sinh lực của Tăng già</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Luật Ma Ha Tăng Kỳ, tập I, Phật bảo Xá Lợi Phất: “Có 10 việc lợi ích nên chư Phật Như Lai vì đệ tử chế giới…</div>
<div></div>
<div><strong>Mười việc lợi ích đó là:</strong></div>
<div></div>
<div>1. Vì nhiếp phục Tăng chúng.</div>
<div></div>
<div>2. Vì nhằm triệt để nhiếp phục Tăng chúng.</div>
<div></div>
<div>3. Vì muốn cho Tăng chúng an lạc.</div>
<div></div>
<div>4. Vì để nhiếp phục những người không biết hổ thẹn.</div>
<div></div>
<div>5. Vì để cho những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.</div>
<div></div>
<div>6. Vì để cho những người không tin khiến họ tin tưởng.</div>
<div></div>
<div>7. Vì để cho những người đã tin tăng thêm lòng tin.</div>
<div></div>
<div>8. Vì muốn dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại.</div>
<div></div>
<div>9. Vì để cho những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi.</div>
<div></div>
<div>10. Vì muốn cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài.</div>
<div></div>
<div>Cho nên đối với hàng xuất gia, giới luật rất cần thiết để thành tựu một Tỷ kheo thanh tịnh và phát triển Tăng đoàn. Nói cách khác, Giới luật chính  là nguồn sinh lực  của Tăng già, và là kim chỉ nam cho sự sinh hoạt Tăng đoàn.</div>
<div></div>
<div>Tăng già là một đoàn thể Tỷ kheo thanh tịnh hòa hợp, là một trong ba ngôi báu biểu hiện sự tồn tại của Phật pháp, là người trực tiếp thay Phật tuyên dương Chánh pháp để làm lợi lạc quần sanh. Do đó, khi trong Tăng chúng bắt đầu có sự xen tạp, bản thể thanh tịnh Tăng không còn được vẹn toàn, thì khi đó Đức Phật mới chế giới hầu ngăn chặn sự manh nha của các hữu lậu.</div>
<div></div>
<div>Với tinh thần “Tùy phạm tùy chế”, giới luật Phật giáo chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của hành giả mà không hề có tính cách giáo điều, ép buộc. Các hành giả sẽ tình nguyện vâng giữ giới pháp một cách nghiêm mật để chu toàn bản thể thanh tịnh Tỷ kheo và xây dựng Tăng đoàn mẫu mực. Tự thân mỗi hành giả, nương vào giới luật để gạn lọc thân tâm, tận trừ mọi lậu hoặc, ngăn chặn nghiệp bất thiện. Nhờ đó mà thân tâm được thúc liễm, đạo hạnh được tăng trưởng, đời sống không bị nhiễm ô trần tục. Một người vâng giữ, nhiều người vâng giữ, rồi từng cá nhân đó hợp lại thành một tập thể trang nghiêm thanh tịnh. Đây chính là điểm khác biệt của Tăng đoàn Phật giáo so với tổ chức của các hội chúng khác.</div>
<div></div>
<div>Tuy nhiên, yếu tố tạo nên thanh tịnh hòa hợp của chúng đệ tử Phật căn bản vẫn là sự nghiêm trì giới luật. Vì giới luật chính là nền tảng căn bản để giữ gìn và bảo hộ giới thể cho một Tỷ kheo như pháp. Một Tỷ kheo mà không giữ giới chắc chắn không thể tồn tại trong Tăng đoàn được.</div>
<div></div>
<div>Kinh Tăng Chi III, Đức Phật dạy rằng: “… Biển cả không bao giờ dung chứa tử thi. Cũng vậy, nếu Tỷ kheo nào không giữ được hạnh thanh tịnh thì Tăng đoàn sẽ không sống chung với kẻ ấy, hãy nhanh chóng tụ họp lại loại kẻ ấy ra. Dù kẻ ấy có ngồi giữa Tăng chúng cũng xa rời Tăng chúng, và Tăng chúng cũng không bảo vệ được kẻ ấy”.</div>
<div></div>
<div>Thế nhưng, trong xã hội ngày nay, do sự chi phối của hoàn cảnh xung quanh, chúng ta còn thiếu những môi trường tốt để trưởng dưỡng đời sống phạm hạnh và gìn giữ sơ tâm. Tăng Ni trẻ có quá ít sự bảo hộ của Tăng đoàn. Nhưng dẫu thế nào đi nữa, tự thân mỗi người vẫn là quyết định thiết yếu cho sự thành bại trong đời sống tu học của chính mình. Cho nên, đối với người xuất gia, việc vâng giữ giới luật là rất cần thiết. Cần thiết cho bản thân và cần thiết cho Tăng đoàn.</div>
<div></div>
<div>Chúng ta thử nghĩ xem, nếu không có giới luật thì mỗi người sẽ hành động mỗi cách, nói năng mỗi kiểu thì làm sao xây dựng một Tăng đoàn gương mẫu để truyền bá giáo pháp và đạt đến địa vị vô thượng giác. Và nếu chúng Tỷ kheo không nghiêm trì giới luật thì sẽ không bao giờ sống được trong niệm đoàn kết hòa hợp như nước với sữa được. Một khi không hòa hợp thì Tăng đoàn sẽ yếu đi, giá trị mô phạm của tập thể cũng không còn, không sớm thì muộn tổ chức ấy cũng bị tan rã.</div>
<div></div>
<div>Vì thế, giáo pháp của Phật đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân. Sự chu toàn đạo đức của mỗi cá nhân sẽ trang nghiêm cho đoàn thể. Mỗi Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni sống đúng như Pháp, như Luật sẽ là nguồn năng lực vô biên cho sự lớn mạnh của Tăng già. Và một khi Tăng đoàn đã thực sự thanh tịnh hòa hợp thì không một thế lực nào có thể lấn áp hay phá hoại được. Phật pháp nhờ đó mà ngày càng vững mạnh tỏa sáng. Cuộc sống chung quanh cũng nhờ đó mà được ảnh hưởng tốt đẹp.</div>
<div></div>
<div>&#8220;Giới như đèn sáng lớn</div>
<div>Soi sáng đêm tối tăm</div>
<div>Giới như gương báu sáng</div>
<div>Chiếu rõ tất cả pháp”.</div>
<div>(Kinh Phạm Võng)</div>
<div></div>
<div>Kinh Di Giáo thuật rằng, trước khi vào Niết Bàn, Đức Phật đã ân cần dạy bảo: “ Các thầy Tỷ kheo, sau khi Như Lai diệt độ, các thầy phải trân trọng, tôn kính tịnh giới, như người mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Như Lai có ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy” (Trí Quang dịch).</div>
<div></div>
<div>Do đó, là đệ tử Phật mà coi thường giới luật sẽ mang tội rất lớn đối với Tam bảo. Chúng ta phải nhớ rằng, vì những lợi ích thiết thực cho sự tu tập cũng như sự vững mạnh của Tăng đoàn mà Đức Phật đã ân cần bày trao giới pháp. Những giới pháp ấy, 250 giới cho hàng Tỷ kheo, 348 giới cho hàng Tỷ kheo ni, trải qua năm tháng, đến nay vẫn còn tồn tại. Nếu chúng ta không ý thức tôn trọng giữ gìn thì có khác gì chúng ta hủy hoại nếp nhà Như Lai!</div>
<div></div>
<div>Nếu chúng ta dửng dưng với những lời dạy ân cần của chư Phật, Tổ, của các bậc trưởng thượng thì coi như đã quay lưng với hoài bão của mình. Chúng ta không thiết tha trau giồi giới đức là đã góp phần làm cho mạt pháp. Như trong kinh Di Giáo, Đức Phật có nói: “Tất cả các ma vương ngoại đạo không ai có thể phá hoại được giáo pháp của ta, chỉ có đệ tử ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi.</div>
<div></div>
<div>Thế nên, là đệ tử Phật, chúng ta phải luôn  tâm niệm giữ gìn giới luật như hơi thở của chính mình. Phải tôn kính trân quý giới luật vì “Giới luật là mạng mạch của Phật pháp. Giới luật còn là Phật pháp còn, Giới luật mất là Phật pháp mất”. Vận mệnh của Phật pháp hoàn toàn tùy thuộc vào sự tồn vong của giới luật. Mà giới luật có được tồn tại lâu dài để làm hưng thịnh cho Tăng đoàn, làm xương minh cho Phật pháp và đem lại lợi ích cho thế gian hay không là do ở nơi chính đệ tử Phật, nhất là những người được xem là “Thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự” có thiết tha nghiêm trì giới luật hay không?</div>
<div></div>
<div><strong>Khải Tâm</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-gioi-luat-la-nguon-sinh-luc-cua-tang-gia.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Phật nói kinh đại báo phụ mẫu trọng ân</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-phat-noi-kinh-dai-bao-phu-mau-trong-an.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-phat-noi-kinh-dai-bao-phu-mau-trong-an.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[An Nan]]></category>
		<category><![CDATA[an viên]]></category>
		<category><![CDATA[báo hiếu]]></category>
		<category><![CDATA[cha mẹ]]></category>
		<category><![CDATA[công ơn]]></category>
		<category><![CDATA[gia đình]]></category>
		<category><![CDATA[ông bà]]></category>
		<category><![CDATA[quà tặng]]></category>
		<category><![CDATA[tổ tiên]]></category>
		<category><![CDATA[vu lan]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=13</guid>
		<description><![CDATA[Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu,chúng con biết đâu]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu,chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.</p>
<div>Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:</p>
<p><center></p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//duc-Phat-Vu-Lan.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td> Đức Thế tôn thuyết pháp</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐÂY LÀ LỜI PHẬT</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Phật bảo A-Nan : công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Những gì là mười điều?</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bao kiếp, duyên cùng nợ;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ngày nay, mới vào thai</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bảy bảy, sáu tinh khai</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Thân trọng, như non Thái</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðộng tĩnh, sợ phong tai</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Áo the, đành xốc-xếch,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Gương lược, biếng trang đài.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi gần ngày sanh nở</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nặng nhọc, khổ vô cùng,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Cưu mang, trong mười tháng</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Sanh nở, sắp đến ngày</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðứng ngồi coi nặng nhọc;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Dáng vẻ, tựa ngô ngây,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Sợ hãi lo, cùng lắng;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Tử sanh giờ phút nầy!</div>
<p><strong><br />
</strong></p>
<div><strong>ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ ta, khi sanh nở,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Thân thể đều mở toang!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Tâm hồn như mê mẩn,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Máu me chan hòa đầy,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chờ nghe, thấy con khóc;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Lòng mẹ mừng rỡ thay!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðương mừng lại lo đến</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Rầu rĩ ruột gan nầy.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ ta lòng thành thực,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Thương con chẳng chút ngơi</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhả ngọt nào có tiếc!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ăn đắng nói cùng ai?</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Yêu dấu như vàng ngọc.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nâng niu tay chẳng rời</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Những mong con ấm no;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ đói rách cũng vui .</div>
<p><strong><br />
</strong></p>
<div><strong>ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP<br />
</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Tự mình nằm chỗ ướt,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chỗ ráo để xê con,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Hai vú phòng đói khát;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Hai tay ủ gió sương.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Thâu đêm nằm chẳng ngủ;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nâng niu tựa ngọc vàng</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Những mong con vui vẻ;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Lòng mẹ mới được yên.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðức mẹ dày như đất;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Công cha thẳm tựa trời</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chở che coi bình đẳng;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Cha mẹ cũng thế thôi!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chẳng quản, câm mù, điếc!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chẳng hiềm, quắt tay chân!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bởi vì con ruột thịt,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Trọn đời dạ chẳng khuây.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Từ biệt, lòng khôn nhẫn;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Sanh ly dạ đáng thương;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Con đi đường xa cách</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ ở chốn tha hương,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ngày đêm thường tưởng nhớ;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Sớm tối vẩn vấn vương</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Như vượn thương con đỏ</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khúc khúc đoạn can trường?</div>
<p><strong><br />
</strong></p>
<div><strong>ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Công lao tựa vực trời</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bồng bế cùng nuôi nấng;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mong sao con ăn chơi</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nhường cơm cùng xẻ áo;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ đói rách dũng vui!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khôn lớn tìm đôi lứa</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Gây dựng cho nên người</div>
<p>&nbsp;</p>
<div><strong>ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON</strong></div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Công cha cùng đức mẹ</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Cao sâu tựa vưc Trời</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ già, hơn trăm tuổi,</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Vẫn thương con tám mươi!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bao giờ ân oán hết?</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !&#8230;</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!&#8230;.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy chư vị Bồ Tát đã đền ân cha mẹ.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Phật Từ Di mẫu, Kiều Ðàm Di đại Bồ Tát.</div>
<p>&nbsp;</p>
<div>Kính lạy Thầy Cưu Ma La Thập dịch kinh này.</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-phat-noi-kinh-dai-bao-phu-mau-trong-an.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Các dục vui ít khổ nhiều</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-cac-duc-vui-it-kho-nhieu.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-cac-duc-vui-it-kho-nhieu.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[an lạc]]></category>
		<category><![CDATA[hạnh phúc]]></category>
		<category><![CDATA[khổ đau]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[sự nguy hiểm]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp chí Văn hóa Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tỷ kheo]]></category>
		<category><![CDATA[vị ngọt]]></category>
		<category><![CDATA[xuất ly]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=17</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là cảm giác thích thú hân hoan hay tâm lý hạnh phúc khi các giác quan của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với các đối tượng cảm quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo hân hoan, thích thú. Trong]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Đức Phật thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là cảm giác thích thú hân hoan hay tâm lý hạnh phúc khi các giác quan của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với các đối tượng cảm quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo hân hoan, thích thú.</p>
<div id="post_body">
<div>Trong Kinh tạng Pàli, có câu nói khá tế nhị nhưng rất thực tế: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn”. Đây là câu nói đúc kết sự chứng nghiệm của đức Phật  về sự thật  khổ đau của cuộc đời, thường được Ngài sử dụng để khuyên nhắc các Tỷ – kheo chế ngự các ham muốn giác quan, sống nếp sống thiếu dục tri túc, không còn bị quay cuồng bởi các động cơ dục lạc, thuận tiện cho việc tu tập hướng đến giải thoát hoàn toàn mọi trói buộc khổ đau.cac-duc-vui-it-kho-nhieu</div>
<div></div>
<div>Đức Phật rất thực tế và khách quan. Phát biểu về nguyên nhân khổ đau và lối sống an lạc, Ngài nêu rõ ba luận đề: Vị ngọt (assàda), sự nguy hiểm (àdìnava), sự xuất ly (nissarana), nói rõ quan điểm của Ngài về cuộc đời và lối sống hạnh phúc minh triết trên cõi đời.</div>
<div></div>
<div>Luận đề thứ nhất – Vị ngọt (assàda): Đức Phật thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là cảm giác thích thú hân hoan hay tâm lý hạnh phúc khi các giác quan của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với các đối tượng cảm quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo hân hoan, thích thú.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//cac-duc-vui-it-kho-nhieu.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Luận đề thứ hai – Sự nguy hiểm (àdìnava): Trong khi thừa nhận cuộc đời có vị ngọt, Đức Phật cũng thẳng thắn chỉ rõ rằng cuộc đời là nguy hiểm, tức mặt trái của sự hiện hữu. Con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và những gì con người cảm nhận được (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều do duyên sinh, vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Nói khác đi, tất cả mọi thứ trêm cuộc đời này, dù tốt hay xấu, hạnh phúc hay bất hạnh, đều phải thay đổi và không có tính cách trường cửu. Như vậy, sự nguy hiểm ở đây được hiểu theo nghĩa một quy luật tự nhiên, có sinh tức có diệt. Mặt khác, sự nguy hiểm của cuộc đời cũng được thấy rõ bởi lòng tham lam ích kỉ của con người, tức là do khao khát muốn chiếm hữu và thoã mãn các vị ngọt hay lạc thú ở đời mà con người bất chấp đạo lý, rơi vào các hành vi ác, bất thiện như tranh chấp, chiến tranh, xâm lăng, mưu hại lẫn nhau, khiến gây khổ đau cho mình và cho người khác. Đây là những gì đang diễn ra hầu như khắp nơi trên thế giới.</div>
<div></div>
<div>Luận đề thứ ba – Sự xuất ly (nissarana): Từ thực tế này, nghĩa là sự vô thường, nguy hiểm của cuộc đời, Đức Phật nêu luận đề thứ ba, sự xuất ly cuộc đời, nhấn mạnh sự điều phục lòng tham hay dục vọng trên cơ sở thực hành Bát Thánh đạo, tức một nếp sống trung dung tiết độ có khả năng giúp con người  phát huy các năng lực đạo đức tâm linh và trí tuệ để sống an lạc giữa cuộc đời. Sau đâu là toàn bộ lời dạy của Ngài (1):
</div>
<div>
<table>
<tbody>
<tr>
<td> “Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các dục?</p>
<div></div>
<div>Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các sắc pháp do nhãn căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả thức… các  hương do tỷ căn nhận thức… các vị do thiệt căn nhận thức… các xúc do thân căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục như vậy. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các  dục.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các dục?</div>
<div></div>
<div>Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thục hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ – kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả”. Này các Tỷ – kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ – kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?”. Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua. Sát – đế – lỵ tranh đoạt với Sát – đế – lỵ, Bà – la – môn tranh đoạt với Bà – la môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục …(như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn vào nhau, đao được quang ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây, họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục…(như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đáng bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc đầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình… Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa)… chúc thủ hình (đốt tay)… khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)… bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)… linh dương hình (hình phạt con dê núi)… câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)… tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)… khối trấp hình… chuyển hình… cao đạp đài… họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc ở những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.</div>
<div></div>
<div>Lại nữa, này các Tỷ – kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ – kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do chính dục làm nhân.</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ – kheo, thế nào là sự xuất ly các dục? Này các Tỷ – kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục”.</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<div>Chú thích: 1. Đại kinh Khổ uẩn, Trung Bộ.</div>
<div>
<strong>Tâm Thành</strong></div>
<div><strong>Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 71</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-cac-duc-vui-it-kho-nhieu.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật dạy về công ơn sinh thành của cha mẹ</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-ve-cong-on-sinh-thanh-cua-cha-me.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-ve-cong-on-sinh-thanh-cua-cha-me.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[báo hiếu]]></category>
		<category><![CDATA[bất hiếu]]></category>
		<category><![CDATA[cha mẹ]]></category>
		<category><![CDATA[công ơn]]></category>
		<category><![CDATA[kinh A Hàm]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Báo Ân]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Hiếu Tử]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Tâm Địa Quán]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Trường Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[kinh Vu Lan Bồn]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[ngũ giới]]></category>
		<category><![CDATA[như lai]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phật pháp]]></category>
		<category><![CDATA[tam Quy]]></category>
		<category><![CDATA[tu học]]></category>
		<category><![CDATA[vu lan]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=10</guid>
		<description><![CDATA[Trong hệ thống giáo điển Phật đà, cả Nam truyền và Bắc truyền đều có những bài kinh, đoạn kinh nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ rất là cảm động. Cũng như có những trang kinh đức Phật chỉ dạy phương pháp báo đáp ân đức sâu dày đối với]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Trong hệ thống giáo điển Phật đà, cả Nam truyền và Bắc truyền đều có những bài kinh, đoạn kinh nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ rất là cảm động.</p>
<div id="post_body">
<div>Cũng như có những trang kinh đức Phật chỉ dạy phương pháp báo đáp ân đức sâu dày đối với song thân một cách thiết thực nhất. Có nghĩa là đức Phật đã chỉ bày cách báo ân chơn chánh, hợp đạo lý, có lợi ích trong hiện đời và mai sau.</div>
<div></div>
<div>Hay nói rõ hơn, đức Phật đã đưa ra tiêu chuẩn đối với một người con được gọi là hiếu đạo thì phải hội đủ cả hai mặt sự và lý. Sự là hình thức báo đáp bên ngoài, là lo lắng, chăm nom phụng dưỡng cha mẹ khỏi mọi điều thiếu thốn về vật chất; luôn tôn trọng kính lễ cha mẹ và không được làm cho cha mẹ phiền lòng. Lý là chăm lo đời sống tâm linh cho cha mẹ. Hướng cha mẹ phát khởi thiện tâm, gieo tạo phước lành, tu theo chánh đạo; là làm sao cho cha mẹ hiểu rõ đường lành, tin sâu nhơn quả, thoát ngoài vòng mê tín, ra khỏi luân hồi nghiệp báo, đạt được an lạc giải thoát trong hiện tại và tương lai.</div>
<div></div>
<div>Nói cách khác, một đời sống hiền thiện chính là hiếu hạnh, là phát tâm báo ân. Còn như làm điều tà ác, không tu dưỡng đạo đức là bất hiếu.</div>
<div></div>
<div>Theo quan điểm của Phật giáo, thiện là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham, không sân, không si, có chánh kiến. Ngược lại là bất thiện. Mà tham, sân, si chính là gốc rễ của bất thiện.</div>
<div></div>
<div>Cho nên người tu học Phật pháp phải thấy rõ điều này để biết cách áp dụng lời Phật dạy vào đời sống sinh hoạt của chính mình, để mỗi ngày bớt tham, sân, si, thăng tiến trên đường đạo. Được như vậy mới thật sự là người con hiếu đạo.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//cong-on-cha-me.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Trong đạo Phật, vấn đề hiếu đạo được đề cập trong nhiều trong Kinh tạng Pali của Phật giáo Nguyên Thủy và Hán tạng của hệ phái Bắc tông như: kinh Trường Bộ, kinh A Hàm, kinh Báo Ân, kinh Vu Lan Bồn, kinh Hiếu Tử, kinh Tâm Địa Quán…</div>
<div></div>
<div>Ở đây, chúng tôi sưu tập lại một số ít trong rất nhiều pháp thoại đức Phật thuyết về công ơn cha mẹ và cách thức đáp đền của con cái đối với cha mẹ hầu chia sẻ cùng các bạn.</div>
<div></div>
<div>Phật dạy:</div>
<div></div>
<div><strong>“Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu</strong></div>
<div><strong>Cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu”.</strong></div>
<div><strong>(Kinh Nhẫn Nhục)</strong></div>
<div></div>
<div>“Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng sinh lang thang trong nẻo luân hồi, bỏ thân này nhận thân khác, sinh đi sinh lại bao lần, sữa mẹ mà chúng ta đã uống còn nhiều hơn nước trong bốn biển”.</div>
<div>(Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“Này các tỳ kheo! Có hai người mà các thầy không thể nào đền ơn cho hết được, đó là cha và mẹ. Nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa ngàn dặm, cung phụng đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn nệm và thuốc thang, thậm chí cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện trên vai đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu cha mẹ. Các thầy phải biết, ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế, mà biết ân đó khó trả. Do vậy, người con hiếu thảo muốn báo đáp công ơn cha mẹ đúng chánh pháp cần phải thực hành những việc sau đây:</div>
<div></div>
<div>- Nếu cha mẹ chưa có niềm tin, phải khuyết khích cha mẹ phát tâm tin tưởng tam bảo.</div>
<div>- Nếu cha mẹ xan tham, phải khuyết khích cha mẹ phát tâm bố thí.</div>
<div>- Nếu cha mẹ theo điều ác, phải khuyết khích cha mẹ hướng về đường thiện.</div>
<div>- Nếu cha mẹ theo tà kiến, phải khuyết khích cha mẹ trở về với chánh kiến.</div>
<div></div>
<div>Làm được như vậy là trả ơn cha mẹ đúng với chánh pháp, khiến cha mẹ không những được an vui trong hiện tại, mà còn gieo phước lành trong tương lai”.</div>
<div>(Kinh Tăng Nhất A Hàm)</div>
<div></div>
<div><strong>“Cung kính và vâng lời cha mẹ.</strong></div>
<div><strong>- Phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu.</strong></div>
<div><strong>- Giữ gìn thanh danh truyền thống gia đình.</strong></div>
<div><strong>- Bảo vệ tài sản cha mẹ để lại.</strong></div>
<div><strong>- Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời”.</strong></div>
<div><strong>(Kinh Trường Bộ)</strong></div>
<div></div>
<div>“Vô thỉ là luân hồi. Này các tỳ kheo, không dễ gì tìm được một chúng sanh trong một thời gian dài này lại không một lần nào làm mẹ, làm cha”.</div>
<div>(Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“Tất cả người nam là cha ta , tất cả người nữ là mẹ ta . Bao nhiêu đời kiếp ta từ đó mà sanh ra , nên chúng sanh trong sáu đường là cha mẹ của ta cả” .</div>
<div>(Kinh Phạm Võng)</div>
<div></div>
<div>“ Này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu người nào biết ơn và đền ơn cho dù ở cách xa Ta ngàn dặm , nhưng ta vẫn xem người đó như đứng hầu gần bên Ta . Còn nếu như người nào không biết ơn và đền ơn , cho dù người đó có đứng hầu gần bên Ta nhưng Ta vẫn xem họ cách xa ngàn dặm”.</div>
<div>(Kinh Tăng Nhất A Hàm)</div>
<div></div>
<div>“ Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ở trong nhà , hãy hiếu dưỡng cha mẹ , vua Phạm Thiên đã có ở trong nhà . Muốn có Đế Thích ở trong nhà , hãy hiếu dưỡng cha mẹ , Đế Thích sẵn ở trong nhà . Muốn được tất cả thiên thần ở trong nhà , chỉ cúng dường cha mẹ , tất cả thiên thần đều ở trong nhà . Cho đến muốn cúng dường Thánh Hiền và Phật , chỉ cúng dường cha mẹ , các vị Thánh Hiền và Phật đều ở trong nhà”.</div>
<div>(Kinh Tạp Bảo Tạng)</div>
<div></div>
<div>“Phật hỏi các Thầy Sa môn: Con nuôi cha mẹ, lấy cam lồ trăm vị làm thức ăn, dùng thiên nhạc làm vui tai, sắm y phục hảo hạng mặc nơi thân, vai cõng cha mẹ đi khắp bốn phương, suốt đời phụng dưỡng như vậy, đáng gọi là hiếu chăng?
</div>
<div>Các Thầy Sa môn thưa: Người này là đại hiếu.
</div>
<div>Phật dạy: Chưa gọi là hiếu.
</div>
<div>Phật bảo các Thầy Sa-môn : Xem người thế gian không có hiếu thảo, chỉ thế này mới gọi là hiếu: Hãy khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, thọ tam Quy giữ ngũ Giới. Dù cha mẹ sớm mai thọ trì quy giới , chiều về cõi chết , đối với ơn nặng cha mẹ nuôi dưỡng , cũng gọi tạm đền”.<br />
(Kinh Hiếu Tử)</div>
<div></div>
<div>Mẹ hiền còn sống là mặt trời giữa trưa chói sáng</div>
<div>Mẹ hiền khuất bóng là mặt trời đã lặn</div>
<div>Mẹ hiền còn sống là mặt trăng sáng tỏ</div>
<div>
<div>Mẹ hiền khuất rồi là đêm tối âm u.</div>
<div>(Kinh Tâm Địa Quán)</div>
</div>
<div></div>
<div>Vui thay hiếu kính Mẹ</div>
<div>Vui thay hiếu kính Cha</div>
<div>Vui thay kính Sa môn</div>
<div>Kính bậc Thánh vui thay.</div>
<div>(Kinh Pháp Cú)</div>
<div></div>
<div>“Có hai hạng người , này các Tỳ kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai. Là mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng cha , một bên vai cõng mẹ, làm vậy cho đến trăm tuổi, nếu đấm bóp, thoa nước tắm rửa , thoa gội , và dầu tại đấy có vãi tiểu tiện , đại tiện như thế , này các Tỳ Kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái , nuôi nấng , nuôi dưỡng con khôn lớn, giới thiệu con vào đời”.<br />
(Kinh Tăng Chi I)</div>
<div></div>
<div>“ Làm con đối với cha mẹ đem chút lễ mọn cúng dường thì được phước vô lượng , trái lại làm ít điều bất thiện đối với cha mẹ tội cũng vô lượng”.</div>
<div>(Kinh Tạp Bảo Tạng)</div>
<div></div>
<div>“ Thế Tôn lấy một ít đất để trên đầu ngón tay rồi hỏi các Thầy Tỳ kheo, đất trên đầu ngón tay ta nhiều hay đất trên quả địa cầu này nhiều?
</div>
<div>Bạch Đức Thế Tôn! Đất trên đầu ngón tay Như Lai so với đất trên quả địa cầu thì quá ít.
</div>
<div>Cũng vậy, này các Tỳ kheo, những chúng sanh hiếu kính với cha mẹ thì quá ít , như đất trên đầu ngón tay của ta, còn những chúng sinh không hiếu kính với cha mẹ lại quá nhiều như đất trên địa cầu”.</div>
<div>(Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“ Những đứa con bất hiếu , sau khi chết bị đọa vào địa ngục A tỳ , lửa dữ thiêu đốt , ăn hoàn sắt nóng , uống nước đồng sôi , gươm đao đâm chém …. ngày đêm chết sống muôn lần , đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây , sự hình phạt tại A tỳ ngục , rất nặng nề ngỗ nghịch song thân”.</div>
<div>(Kinh Báo Hiếu)</div>
<div></div>
<div>“ Ta trong nhiều kiếp quá khứ , nhờ từ tâm hiếu thuận , cúng dường cha mẹ , do công đức đó , nên sinh lên các từng trời thời làm Thiên đế , xuống nhân gian thì làm Thánh Vương”.</div>
<div>(Kinh Hiền Ngu)</div>
<div></div>
<div>“ Thuở Phật còn tại thế có một vị chư Thiên đến hỏi : “ Bạch Đức Thế Tôn , làm sao để có được vận may ?”
</div>
<div>Phật đáp :</div>
<div>“ Phụng dưỡng cha và mẹ là vận may tối thượng”.<br />
(Kinh Hạnh Phúc)</div>
<div></div>
<div>“ Ta trải qua nhiều kiếp tu hành thành đạo là nhờ công ơn của cha mẹ nuôi dưỡng”.</div>
<div>(Kinh Phân biệt)</div>
<div></div>
<div>“ Thờ trời đất quỷ thần không bằng có hiếu với cha mẹ , vì cha mẹ là hai vị thần minh cao nhất trong các thần minh”.</div>
<div>(Kinh Tứ Thập Nhị Chương)</div>
<div></div>
<div>“ Hiếu hạnh đứng đầu trăm hạnh tốt . Hiếu cảm đến trời thì mưa hòa gió thuận , hiếu cảm đến đất thì muôn vật hóa sinh , hiếu cảm đến người thì mọi phúc tăng trưởng”.</div>
<div>(Khế kinh)</div>
<div></div>
<div>“Ơn cha lành như núi Thái , nghĩa mẹ hiền sâu hơn biển cả . Nếu ta ở trong đời một kiếp , nói công ơn cha mẹ không thể hết” .</div>
<div>“Cha mẹ tại tiền như Phật tại thế , gặp thời không có Phật , khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật vậy”.\</div>
<div>(Kinh Tâm Địa Quán)</div>
<div></div>
<div>“Cha mẹ là Phạm Thiên</div>
<div>Bậc đạo sư đời trước</div>
<div>Xứng đáng được cúng dường</div>
<div>Vì thương đến cháu con</div>
<div>Do vậy bậc hiền trí</div>
<div>Đảnh lễ và tôn trọng</div>
<div>Dâng thức ăn nước uống</div>
<div>Vải mặc và giường nằm</div>
<div>Thoa bóp cùng tắm rửa</div>
<div>Với sở hành như vậy</div>
<div>Đời này người hiền khen</div>
<div>Đời sau hưởng Thiên lạc”.</div>
<div>(Kinh Hạnh Phúc)</div>
<div></div>
<div>“Thế Tôn lại bảo A Nan</div>
<div>Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin</div>
<div>Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo</div>
<div>Mười tháng trường chu đáo mọi bề</div>
<div>Thứ hai sanh đẻ gớm ghê</div>
<div>Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần</div>
<div>Điều thứ ba thâm ân nuôi dưỡng</div>
<div>Cực đến đâu, bền vững chẳng lay</div>
<div>Thứ tư ăn đắng uống cay</div>
<div>Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con</div>
<div>Điều thứ năm lại còn khi ngủ</div>
<div>Ướt mẹ nằm khô ráo phần con</div>
<div>Thứ sáu sú nước nhai cơm</div>
<div>Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê</div>
<div>Điều thứ bảy không chê ô uế</div>
<div>Giặt đồ dơ của trẻ không phiền</div>
<div>Thứ tám chẳng nở chia riêng</div>
<div>Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo</div>
<div>Điều thứ chín miễn con sung sướng</div>
<div>Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam</div>
<div>Tính sao có lợi thì làm</div>
<div>Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm</div>
<div>Điều thứ mười chẳng ham trao chuốt</div>
<div>Dành cho con các cuộc thanh nhàn</div>
<div>Thương con như ngọc như vàng</div>
<div>Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái sơn”.</div>
<div>(Kinh Báo Ân)</div>
<div></div>
<div>“ Này các Tỳ Kheo , sữa mẹ mà các Thầy thọ nhận nơi người mẹ từ vô lượng kiếp đến nay còn nhiều hơn nước của đại dương . Quý Thầy nên biết sữa của người mẹ là những giọt máu kết tinh thành những dòng sữa ngọt truyền đạt qua cho con , mỗi ngày đứa con bụ bẫm lớn lên đã rút tỉa tàn phá thân hình của người mẹ khô gầy héo mòn , chết sớm cũng vì con”. (Kinh Tương Ưng)</div>
<div></div>
<div>“Người con nào giàu có mà không biết hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ đó là cửa ngõ đưa đến bại vong”. (Kinh Đại Vân)</div>
<div></div>
<div>“Người nào muốn báo ơn nghĩa to lớn cả cha mẹ , không có cách nào hơn là phát tâm Bồ đề cầu giác ngộ , rồi tìm cách hướng dẫn người thân của mình và chúng sanh đồng phát tâm Bồ đề , đó là cách báo ân rốt ráo”. (Kinh Phương Tiện Phật Báo Ân)</div>
<div></div>
<div>“ Người con chí hiếu dù có gặp đại nạn như tai trời , ách nước , địa chấn…. sẽ thoát hiểm một cách an toàn. Nếu giàu thì được hưởng trọn vẹn gia tài không bị nghịch cảnh, chướng duyên , nội nghịch ngoại thù , luật vua phép nước , trộm cướp mất mùa… Nếu nghèo thì đời sống trong sạch thanh nhàn, trời người yêu thương, danh thơm xông khắp , không bị cảnh nợ nần khổ sở , ít bịnh tật , được tăng tuổi thọ… Sau khi chết đuợc sanh Thiên”. (Kinh Hạnh Phúc)</div>
<div></div>
<div>“Giữa các loài hai chân</div>
<div>Chánh giác là tối thắng</div>
<div>Trong các loài con cái</div>
<div>Hiếu thuận là tối thắng”.</div>
<div>(Kinh Tăng Chi I)</div>
<div></div>
<div>Như bài viết: “Lời Phật dạy về công ơn cha mẹ“, chúng ta đã thấy đức Phật nói thật cụ thể, rõ ràng về ơn cha nghĩa mẹ và những phương cách báo hiếu thông thường mà ai cũng có thể làm được.</div>
<div></div>
<div>Rất mong rằng tất cả chúng ta đều ghi lòng tạc dạ, luôn nhớ nghĩ đến ân nghĩa sinh thành sâu dày thâm trọng của cha mẹ để tìm cách đáp đền trong muôn một.
</div>
<div><strong>Tâm Chơn</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-ve-cong-on-sinh-thanh-cua-cha-me.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Báo đáp ơn cha, nghĩa mẹ</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-bao-dap-on-cha-nghia-me.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-bao-dap-on-cha-nghia-me.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[báo hiếu]]></category>
		<category><![CDATA[cha mẹ]]></category>
		<category><![CDATA[hành trang]]></category>
		<category><![CDATA[hiếu dưỡng]]></category>
		<category><![CDATA[kinh điển]]></category>
		<category><![CDATA[pháp thoại]]></category>
		<category><![CDATA[suy nghiệm]]></category>
		<category><![CDATA[tái sinh]]></category>
		<category><![CDATA[thế tôn]]></category>
		<category><![CDATA[thích quảng tánh]]></category>
		<category><![CDATA[trả ơn]]></category>
		<category><![CDATA[tỷ kheo]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=11</guid>
		<description><![CDATA[Người con Phật hiếu đạo luôn phụng dưỡng và kính thuận cha mẹ trong hiện đời nhưng cũng không quên tạo dựng hành trang an lành cho cha mẹ khi giả từ cuộc thế, để tái sinh vào cõi lành. Hành trang đó chính là tín, giới, thí và tuệ. Một thời, Thế Tôn ở]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Người con Phật hiếu đạo luôn phụng dưỡng và kính thuận cha mẹ trong hiện đời nhưng cũng không quên tạo dựng hành trang an lành cho cha mẹ khi giả từ cuộc thế, để tái sinh vào cõi lành. Hành trang đó chính là tín, giới, thí và tuệ.</p>
<div id="post_body">
<div>Một thời, Thế Tôn ở Sàvatthi, tại vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:</div>
<div></div>
<div>1. Này các Tỷ-kheo, ta sẽ giảng cho các Thầy về địa vị bậc không phải Chân nhân và địa vị bậc Chân nhân. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.</div>
<div></div>
<div>Thưa vâng, bạch Thế Tôn.</div>
<div></div>
<div>Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:</div>
<div></div>
<div>Này các Tỷ-kheo, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân? Người không phải Chân nhân, này các Tỷ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.</div>
<div></div>
<div>2. Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.</div>
<div></div>
<div>(Kinh Tăng Chi Bộ I, chương 2, phẩm Tâm thăng bằng, phần Đất)</div>
<div><center><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//388093_351013521640114_785666456_n.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></center></div>
<div><strong>SUY NGHIỆM: </strong></div>
<div></div>
<div>Sống ở đời, biết ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ để hiếu kính đã là điều khó. Nhưng để trở thành người con có hiếu đúng nghĩa, tâm hiếu và hạnh hiếu vẹn toàn lại càng khó khăn hơn. Trong nhiều kinh điển, Thế Tôn thường nói đến công ơn cha mẹ bao la như trời biển, dù chúng ta có hiếu thảo đến mấy vẫn khó có thể đáp đền. Tuy vậy, pháp thoại này Thế Tôn đã chỉ bày một phương thức báo hiếu khác với lệ thường, đó là hướng dẫn cha mẹ tu học, chuyển hóa ba ác nghiệp, mà theo Ngài là “trả ơn đủ cho mẹ và cha”.</div>
<div></div>
<div>Trước hết, Thế Tôn xác quyết rằng, biết ơn và nhớ ơn là đặc tính của bậc chân nhân, của bậc thiện nhân. Khi một người không có hay đã đánh mất đặc tính biết ơn và nhớ ơn thì chắc chắn đó là người độc ác, là kẻ bất nhân, bất chính.</div>
<div></div>
<div>Thế nhưng, dù là bậc chân nhân, là người hiền thiện biết hiếu thảo đến mấy đi nữa vẫn chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho mẹ và cha. Ngay cả những bậc giàu sang, uy quyền tột bậc trên thế gian, một lòng cung phụng song thân thì vẫn không đủ, vì ân đức cha mẹ sinh dưỡng, tác thành cho con cái nên người quá lớn, đến độ không thể nghĩ bàn.</div>
<div></div>
<div>Theo Thế Tôn, hiếu dưỡng trong ý nghĩa thông thường thì dù chu toàn, tận hiếu cũng vẫn chưa đủ. Nên song hành với phụng dưỡng vật chất, kính thuận, người con Phật chí hiếu phải biết khuyến hóa cha mẹ tin tưởng Tam bảo sâu sắc, an trú vào thiện giới, biết bố thí cúng dường, luôn sống với sự soi sáng của tuệ giác. Làm được như thế tức là đã làm đủ, trả ơn đủ cho mẹ và cha.</div>
<div></div>
<div>Rõ ràng, Thế Tôn rất chú trọng đến sự chuyển hóa nghiệp lực cho cha mẹ để mong đời sau cha mẹ tái sanh vào cảnh giới tốt đẹp hơn. Vì đời sống hiện tại vốn hữu hạn và vô thường. Sau đời sống này còn vô số kiếp sống khác nữa. Nếu thương cha mẹ mà thiếu trí tuệ, có thể tạo thêm nghiệp cho cha mẹ mà không tích lũy được phước báo nào cả thì chưa thể gọi đó là thương, là hiếu đúng nghĩa và trọn vẹn nhất.</div>
<div></div>
<div>Vì thế, người con Phật hiếu đạo luôn phụng dưỡng và kính thuận cha mẹ trong hiện đời nhưng cũng không quên tạo dựng hành trang an lành cho cha mẹ khi giả từ cuộc thế, để tái sinh vào cõi lành. Hành trang đó chính là tín, giới, thí và tuệ. Điều này có nghĩa là đời này và đời sau cha mẹ đều hạnh phúc. Vì thế mà Thế Tôn khẳng định là đã làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha.</p>
<p><strong>Thích Quảng Tánh</strong><br />
Chú thích: Bài đã được đăng trên một số trang cá nhân trên mạng Internet, đăng trên phatgiao.org.vn với sự cho phép của tác giả</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-bao-dap-on-cha-nghia-me.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-hay-tu-minh-thap-duoc-len-ma-di.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-hay-tu-minh-thap-duoc-len-ma-di.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[Bà la môn]]></category>
		<category><![CDATA[chánh pháp]]></category>
		<category><![CDATA[lời phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[nghiệp]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp Cú]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[thuyết pháp]]></category>
		<category><![CDATA[tu hành]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=12</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật nhấn mạnh hai điểm, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác. Một lần, khi đức Phật nhuốm bệnh]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Đức Phật nhấn mạnh hai điểm, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.</p>
<div id="post_body">
<div>Một lần, khi đức Phật nhuốm bệnh ở Beluvà, trước sự lo âu buồn khổ của tôn giả Ananda (Trường III, trang 101), và một lần khác, trước tin tôn giả Sàriputta (Xá lợi Phất) đã mệnh chung và trước sự lo âu của tôn giả Ananda (A Nan) (Tương V, 170), đức Phật đã tuyên bố Lời dạy này, vừa là lời chỉ dạy tóm thâu mọi phương pháp tu hành của Ngài được cô đọng lại, và cũng là một lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung, nên có những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình những gì các đệ tử cần phải tu tập, sau khi bậc Ðạo sư viên tịch:</div>
<div></div>
<div>&#8211; &#8220;Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác &#8230;</div>
<div></div>
<div>Này Ananda, ở đời, vị Tỷ kheo trú quán trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trú quán thọ trên các cảm thọ &#8230; trú quán tâm trên các tâm, trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.</div>
<div></div>
<div>Như vậy này Ananda, Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.</div>
<div></div>
<div>Này Ananda, những ai, hiện nay hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi&#8221;.</div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//205109_263024950489576_1538637857_n.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td> Thắp lên ngọn đèn trí huệ</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Ở đây vì chữ Dipa vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo nên có thể dịch: Tự mình thắp đuốc lên mà đi, hay Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình.</div>
<div></div>
<div>Trong lời dạy đặc biệt quan trọng và hy hữu này, đức Phật nhấn mạnh hai điểm. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.</p>
<p>Chính hai quan điểm này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, chứng đạo của Thế Tôn dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài và cũng gói ghém trọn vẹn tất cả giáo pháp Ngài dạy trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử.</p></div>
<div></div>
<div>Thật vậy, chúng ta thấy rõ, trong hơn sáu năm tầm đạo, hành đạo và chứng đạo, Thế Tôn đã tự mình dùng nỗ lực cá nhân, đã tự mình tự lực tìm đạo, hỏi đạo với hai vị đạo sư ngoại đạo thời danh là Alara Kalama và Uddaka Ràmaputta, đã tự mình tự lực hành trì khổ hạnh, đã tự mình tự lực hành thiền, và cũng tự mình tự lực phát triển trí tuệ và cuối cùng thành đạo dưới gốc cây Bồ Ðề, thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.</p>
<p>Ngài không nhờ một thần lực nào, không phải là hiện thân của một đấng thiêng liêng nào, không phải là hóa thân của một đấng tối cao nào. Ngài chỉ là một người, với sức mạnh thể lực và trí lực của con người, đã tự mình tìm đạo và tìm đạo thành công, đã tự mình hành đạo và hành đạo có kết quả, đã tự mình chứng đạo và chứng đạo hoàn toàn viên mãn, như chúng ta đã thấy rõ trong đời sống của Ngài, nếu chúng ta gạt bỏ qua một bên những thêm thắt về sau để thần thánh hóa đời sống của Ngài.</p></div>
<div></div>
<div>Ngài đã tự lực tìm đạo và học đạo và tự diễn tả như sau:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Không phải chỉ Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ Alara Kalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Alara Kalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ Alara Kalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alara Kalama có tuệ, Ta cũng có tuệ.</p>
<p>Vậy ta phải cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama, sau khi tự tu, tự chứng, tự đạt đã tuyên bố. Rồi này các Tỷ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú&#8221; (Trung I, 164b).</p></div>
<div></div>
<div>Về sau tu khổ hạnh, Ngài cũng tự mình tự hành trì khổ hạnh như Ngài đã tự diễn tả:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Vì Ta ăn quá ít, chân tay Ta đã trở thành như những cọng cỏ, hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, nên bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu &#8230;&#8221; (Trung I, 80).</div>
<div></div>
<div>Ðức Phật sau khi hành trì khổ hạnh không có kết quả. Ngài cương quyết từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu tự mình hành thiền, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, phát triển tuệ trí, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, biết như thật khổ, biết như thật các lậu hoặc, thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.</p>
<p>Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: &#8220;Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa&#8221; (Trung I, 248). Như vậy, cũng với kinh nghiệm bản thân, tự mình từ bỏ khổ hạnh, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ, đức Phật chứng quả Chánh Ðẳng Chánh Giác.</p></div>
<div></div>
<div>Ðối với bậc Ðạo sư đã dựa vào tự lực để tầm đạo, học đạo và chứng đạo, nên trong 45 năm hoằng pháp độ sinh, lời dạy chủ yếu của Ngài cho các đệ tử cũng là lời dạy tự lực tự tri: &#8220;Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác&#8221;.</div>
<div></div>
<div>Trước hết, đức Phật xác nhận &#8220;cầu xin&#8221; và &#8220;ước vọng&#8221; không có lợi gì, không những trên con đường thực hành chánh pháp mà còn cả vấn đề ước vọng thế gian.</div>
<div></div>
<div>Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 nêu rõ:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy.</div>
<div></div>
<div>Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sinh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu.</p>
<p>Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước.</p>
<p>Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì&#8221;.</p></div>
<div></div>
<div>Kinh Tăng Chi IIIA, trang 123 xác chứng thêm sự vô ích của cầu xin và cầu khẩn. Một vị Tỷ kheo không chú tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ, ước muốn ấy nhất định không được toại nguyện.</p>
<p>Như con gà mái có tám, mười hay mười hai trứng gà, nó ấp ngồi không đúng cách, ấp nóng không đúng cách, ấp dưỡng không đúng cách, thời dầu cho con gà ấy có khởi lên ý muốn mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với miệng, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, con gà mái ấy cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì con gà mái không ấp ngồi một cách đúng đắn, không ấp nóng một cách đúng đắn, không ấp dưỡng một cách đúng đắn.</p></div>
<div></div>
<div>Ngược lại, một Tỷ kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu không khởi lên ước muốn: &#8220;Mong rằng tâm Ta được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ&#8221;, tuy vậy tâm vị ấy vẫn được giải thoát không có chấp thủ. Vì cớ sao? Phải nói rằng vị ấy có tu tập. Có tu tập gì? Có tu tập bốn niệm xứ, có tu tập bốn chánh cần, có tu tập bốn như ý túc, có tu tập năm cần, có tu tập năm lực, có tu tập bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.</p>
<p>Ví như con gà mái, có tám, mười hay mười hai trứng. Nó ấp ngồi một cách đúng đắn, nó ấp nóng một cách đúng đắn. Dẫu con gà ấy không khởi lên ước muốn, mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với mỏ, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, các con gà con của nó cũng phá vỏ trứng và thoát ra ngoài một cách an toàn. Như vậy, có ước nguyện hay không ước nguyện không thành vấn đề. Vấn đề chính là có hành động đúng đắn, đúng pháp để đưa đến kết quả mong muốn mà thôi.</p></div>
<div></div>
<div>Một đoạn kinh nữa (Trung I, trang 303) càng nhấn mạnh sự vô ích của cầu xin. Nếu hành Phạm hạnh không chánh đáng, không làm sao đạt được quả vị. Hành Phạm hạnh không chánh đáng ở đây có nghĩa là theo tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Vì cớ sao? Vì đây không phải phương pháp để đạt được quả vị.</p>
<p>Rồi Ðức Phật ví dụ người đi tìm dầu, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước ép cát cho ra dầu, thời dẫu người ấy có ước nguyện tìm cho ra dầu cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì đây không phải là phương pháp tìm ra dầu. Ðức Phật dùng một ví dụ nữa, ý nghĩa hơn, là một người đi tìm sữa, đến một con bò cái, lại nắm lấy cái sừng con bò cái mà vắt sữa, thời dẫu có ước nguyện hay không ước nguyện, nó cũng không lấy được sữa.</p></div>
<div></div>
<div>Trái lại, nếu có vị sa môn hay Bà la môn nào, có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, dù có ước nguyện hay không ước nguyện, hành Phạm hạnh sẽ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Vì đây là phương pháp đạt được quả vị. Ví như một người đi tìm dầu, sau khi để những hột dầu vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép các hột dầu cho ra dầu.</p>
<p>Dù người ấy có ước nguyện hay không ước nguyện, cũng sẽ lấy được dầu. Vì cớ sao? Vì biết phương pháp làm ra dầu. Cũng ví như người đi tìm sữa, đến con bò cái, vắt sữa từ nơi vú con bò mới sanh con, thời dù có ước nguyện hay không ước nguyện cũng tìm ra được sữa.</p></div>
<div></div>
<div>Ðối với sự việc ở đời cũng vậy, không phải do cầu xin, do nhân ước nguyện mà thành tựu. Ðã là người, thường hay mong ước được năm điều khả lạc, khó tìm được ở đời như: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, tiếng đồn tốt, và được sanh cõi trời. Trong Kinh Khả Lạc (Tăng IIB, trang 74), đức Phật nêu rõ năm điều pháp này không do nhân cầu xin, không do nhân ước vọng mà được, vì nếu có do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ở đời này còn có ai héo mòn vì một lẽ gì, khi mà chỉ cầu xin là được toại nguyện.</p>
<p>Ðức Phật nói rất rõ: Muốn có thọ mạng không thể cầu xin thọ mạng hay tán thán thọ mạng để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường đưa đến thọ mạng, đưa đến dung sắc, đưa đến an lạc, đưa đến tiếng đồn tốt, đưa đến sanh thiên, vị ấy mới thành tựu được, mới đạt được năm điều khả lạc mà mình ước muốn ở đời.</p></div>
<div></div>
<div>Trong định nghĩa của Nghiệp và vai trò của nghiệp đức Phật tuyên bố rất rõ chữ Nghiệp (Karma) có nghĩa là hành động, từ động từ Karoti nghĩa là làm, là hành động về thân, về lời và về ý, nhưng hành động ấy phải là hành động có tư tâm sở, tức là một hành động tự ý mình làm, tự mình quyết định làm, không ai xúi giục, không do ai sai bảo.</p>
<p>Vì đã là hành động tự mình ý thức làm, tự mình quyết định làm, nên đức Phật xác định chúng ta là chủ nhân của Nghiệp (Kammassako) chúng ta là thừa tự của Nghiệp (Kamma-dàyadà), chúng ta vừa chịu trách nhiệm những hành động của chúng ta, chúng ta vừa tự mình chịu kết quả các hành động của chúng ta làm. Kinh Pháp Cú nêu rõ:</p></div>
<div><center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//1489284_10151878577124069_842237909_n.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>&#8220;Ðiều ác tự mình làm,</div>
<div>Tự mình sanh, mình tạo,</div>
<div>Nghiền nát kẻ ngu si,</div>
<div>Như kim cương ngọc quý&#8221;. (Pháp Cú 161)</div>
<div></div>
<div>Một câu kệ nữa xác định rõ ràng hơn:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Tự mình, điều ác làm,</div>
<div>Tự mình làm nhiễm ô,</div>
<div>Tự mình ác không làm,</div>
<div>Tự mình làm thanh tịnh,</div>
<div>Tịnh, không tịnh, tự mình,</div>
<div>Không ai thanh tịnh ai&#8221;. (Pháp Cú 165)</div>
<div></div>
<div>&#8220;Tự mình chỉ trích mình,</div>
<div>Tự mình dò xét mình,</div>
<div>Tỷ kheo tự phòng hộ,</div>
<div>Chánh niệm trú an lạc&#8221;. (Pháp Cú 379)</div>
<div></div>
<div>Trong một bài kinh rất có danh tiếng, Kinh Kalamasutta (Tăng I, 213-216), đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài hãy tin ở nơi mình, không tin một ai khác, tin ở nơi khả năng phán xét thiện ác của mình, chớ có tin vào một phương pháp nào khác:</div>
<div></div>
<div>&#8211; &#8220;Này các Kalama, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận, chớ có tin vì nhân suy luận, chớ có tin sau khi suy tư về những dữ kiện, điều kiện, chớ có tin theo thiên kiến, định kiến, chớ có tin vì thấy thích hợp với khả năng, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Ðạo Sư của mình.</p>
<p>Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau: &#8216;Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đết bất hạnh khổ đau. Thời này Kalama, hãy từ bỏ chúng&#8217; &#8230; Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết như sau: &#8216;Các pháp này là thiện. Các pháp này là không có tội. Các pháp này, được người có trí tán thán. Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc, thời này các Kalama, hãy chứng đạt và an trú&#8217;&#8230;&#8221;.</p></div>
<div></div>
<div>Khi đã ý thức được khả năng của mình có thể phân biệt thiện ác, thời Ðức Phật dạy hãy nên tự y chỉ mình, không y chỉ một ai khác, như các bài kệ sau nêu rõ:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Vị du sĩ không tựa,</div>
<div>Không y chỉ một ai,</div>
<div>Không làm thành thương yêu,</div>
<div>Không tác thành ghét bỏ.</div>
<div>Do vậy, trong sầu than,</div>
<div>Trong xan tham keo kiệt,</div>
<div>Như nước trên lá cây,</div>
<div>Không dính ướt làm nhơ&#8221;. (Kinh Tập, câu 811)</div>
<div></div>
<div>&#8220;Ai không tìm lõi cây</div>
<div>Ðối với các sanh y,</div>
<div>Có thể nhiếp phục tham,</div>
<div>Ðối với các chấp thủ</div>
<div>Vị ấy không y chỉ</div>
<div>Không để ai dắt dẫn,</div>
<div>Tỷ kheo ấy chơn chánh,</div>
<div>Du hành ở trên đời&#8221;. (Kinh Tập câu 364)</div>
<div></div>
<div>Nhưng đức Phật có sự thận trọng. Dẫu cho Ngài đã được giải thoát và giác ngộ hơn Ngài, nhưng Ngài vẫn thấy là Ngài cần phải y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn:</div>
<div></div>
<div>&#8220;Vậy Ta hãy đảnh lễ, cung kính và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn, với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn &#8230; định uẩn &#8230; tuệ uẩn &#8230; giải thoát uẩn chưa được đầy đủ &#8230; nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà la môn, chư Thiên và loài người, không có một Sa môn hay Bà la môn nào khác, với giới, với định, với tuệ và với giải thoát đầy đủ hơn Ta mà Ta có thể cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ. Rồi này các Tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau: &#8216;Với Pháp mà Ta đã chân chính giác ngộ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ Pháp ấy'&#8221;.</div>
<div></div>
<div>Như vậy Ðức Phật với tâm khiêm tốn, muốn tìm một Sa môn hay Bà la môn để nương tựa y chỉ nơi chánh pháp. Ðó là lý do vì sao Ðức Phật lại dạy các Tỷ kheo &#8220;Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (attà-dìpàviharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attà-saranà), chớ y tựa một cái gì khác.</p>
<p>Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác&#8221;. Thái độ này của đức Phật giải thích vì sao Ðức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau khi đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử của đức Phật luôn luôn có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có chánh pháp làm chỗ nương tựa.</p></div>
<div></div>
<div>Trong Tương Ưng III, 51, đức Phật xác định lời khuyên một lần nữa cho các đệ tử của mình lấy chánh pháp làm hòn đảo, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa: &#8220;Hãy sống, tự mìn làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ kheo, hãy nương tựa với chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác&#8221;.</p>
<p>Trong kinh Gopaka Moggallàna, Trung III, trang 111, chúng ta sẽ thấy các đệ tử của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, đã xử sự đúng như lời Ngài dạy. Bà la môn Gopaka Moggallàna hỏi tôn giả Ananda: &#8220;Thưa Tôn giả, có một vị Tỷ kheo nào được Sa môn Gotama sắp đặt: &#8216;Vị này, sau khi Ta diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi và các ngươi sẽ y chỉ vị này?'&#8221;.</p></div>
<div></div>
<div>Tôn giả Ananda trả lời: &#8220;Này Bà la môn không có một vị Tỷ kheo nào được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác sắp đặt: &#8216;Vị này sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi&#8217;, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này.&#8221;</div>
<div></div>
<div>&#8220;Thưa Tôn giả Ananda, có một vị Tỷ kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ kheo Trưởng Lão sắp đặt là vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này?&#8221;.</div>
<div></div>
<div>Tôn giả Ananda trả lời: &#8220;Không có một vị Tỷ kheo nào, này Bà la môn, được chúng tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ kheo Trưởng lão sắp đặt: &#8216;Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi&#8217;, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này&#8221;.</div>
<div></div>
<div>&#8220;Và như vậy là (quý vị) không có chỗ nương tựa. Thưa Tôn giả Ananda, như vậy do nhân gì quý vị có thể hòa hợp?&#8221;.</div>
<div></div>
<div>&#8220;Này Bà la môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà la môn, chúng tôi có chỗ nương tựa. Và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.&#8221;</div>
<div></div>
<div>Lấy Chánh pháp làm chỗ nương tựa, đó cũng chính là lời Phật dạy chúng ta.</div>
<div></div>
<div><strong>Tỳ kheo Thích Minh Châu</strong></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-hay-tu-minh-thap-duoc-len-ma-di.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Phật Dạy : Xả bỏ &#8220;tự ngã&#8221; khi thuyết pháp</title>
		<link>http://cungcohon.com/loi-phat-day-xa-bo-tu-nga-khi-thuyet-phap.html</link>
		<comments>http://cungcohon.com/loi-phat-day-xa-bo-tu-nga-khi-thuyet-phap.html#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 Aug 2015 15:35:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời Phật Dạy]]></category>
		<category><![CDATA[chánh pháp]]></category>
		<category><![CDATA[cực lạc]]></category>
		<category><![CDATA[giải thoát]]></category>
		<category><![CDATA[hằng thuận]]></category>
		<category><![CDATA[hạnh phúc]]></category>
		<category><![CDATA[hộ pháp]]></category>
		<category><![CDATA[hoằng pháp]]></category>
		<category><![CDATA[nhân gian]]></category>
		<category><![CDATA[niết bàn]]></category>
		<category><![CDATA[thuyết pháp]]></category>
		<category><![CDATA[đức phật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://cungcohon.com/?p=8</guid>
		<description><![CDATA[Thuyết pháp là hạnh cao quý của người hoằng pháp vì họ là sứ giả của Như Lai, mang ánh sáng của Chính pháp rải đều khắp nhân gian khiến cho muôn người được hưởng cam lồ vị &#8211; sống hạnh phúc, chết bình an, hưởng an lạc ở nhàn cảnh, hay giải thoát, Niết]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Thuyết pháp là hạnh cao quý của người hoằng pháp vì họ là sứ giả của Như Lai, mang ánh sáng của Chính pháp rải đều khắp nhân gian khiến cho muôn người được hưởng cam lồ vị &#8211; sống hạnh phúc, chết bình an, hưởng an lạc ở nhàn cảnh, hay giải thoát, Niết bàn.</p>
<div id="post_body">
<div>Hiện nay, sinh hoạt thuyết pháp phát triển sôi nổi ở nhiều nơi trong nước và hải ngoại. Người thuyết pháp không những là các Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni mà còn có cả hàng cư sĩ.</p>
<p>Bên cạnh đó, nhờ vào phương tiện truyền thông hiện đại, những buổi giảng pháp của các pháp sư được ghi âm, thu hình và phát hành khắp nơi, mang lại nhiều lợi ích cho người học đạo tại gia cũng như xuất gia. Tuy nhiên, để hằng thuận chúng sinh một cách hiệu quả, thì việc thuyết pháp phù hợp với văn hóa địa phương, ngôn ngữ và hoàn cảnh cụ thể của đối tượng nghe pháp không phải đơn giản. Thuyết pháp cho người khác đòi hỏi vị pháp sư phải có đầy đủ năm đức tính mà đức Thích Tôn xác quyết trong Tăng Chi Bộ II như sau:<br />
<center></p>
<table class="contentimg">
<tbody>
<tr>
<td><img src="/images/post/2015/08/27/16//phatgiao-org-vn-duc-Phat-thuyet-phap.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Đức Phật thuyết pháp&#8230;</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p></center></div>
<div>Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udàyi đang ngồi thuyết pháp với hội chúng đông đảo vây quanh. Tôn giả Ànanda thấy vậy bạch Thế Tôn:
</div>
<div>Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udàyi đang ngồi thuyết pháp với hội chúng đông đảo vây quanh.
</div>
<div>Này Ànanda, thật không dễ gì thuyết pháp cho người khác. Để thuyết pháp cho người khác, này Ànanda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho người khác. Thế nào là năm?
</div>
<div>Ta sẽ thuyết pháp theo tuần tự; ta sẽ thuyết pháp với mắt nhìn vào pháp môn; ta sẽ thuyết pháp với lòng từ mẫn; ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật; ta sẽ thuyết pháp, không làm thương tổn cho mình và người. Này Ànanda, khi thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.</div>
<div>(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Diệu pháp, phần Tôn giả Udàyi, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.611) [1].
</div>
<div>Pháp sư đầy đủ năm đức này mới có khả năng thuyết pháp. Bài kết tập này nhấn mạnh ba đức tính sau cùng: Thuyết pháp vì lòng từ mẫn, thuyết pháp không phải vì tài vật và thuyết pháp không làm tổn thương mình và cho người khác.
</div>
<div>Thuyết pháp vì lòng từ mẫn với mong muốn người nghe được thông hiểu giáo pháp, có thể ứng dụng lời Phật dạy trong việc tu tập để chuyển hóa khổ đau, và mang lại niềm vui, hướng đến giải thoát là mục đích quan trọng của thuyết pháp. Tất cả vì lợi ích chúng sinh, người thuyết pháp khôn khéo trong việc sử dụng ngôn từ sao cho tránh làm tổn hại hoặc gây hoang mang cho người nghe và tổn hại cho chính pháp sư. Thật ra nếu vì lợi ích chúng sanh mà thuyết pháp, vị pháp sư sẽ cố gắng hết sức mình tìm phương tiện thuyết pháp để đạt được mục đích tối thượng của việc thuyết pháp. Chính vì thế, vị pháp sư sẽ lập ra giáo án thuyết pháp và cách dùng ngôn từ thích hợp cho thính giả tùy theo phong tục, trình độ và căn cơ.</p>
<p>Tự nhiên một pháp tương túc với bốn pháp còn lại là nhờ quên mình vì người mà thuyết pháp. Làm như vậy chính là xả bỏ tự ngã để thuyết pháp.
</p></div>
<div>Trong các kinh điển Đại thừa, xả bỏ tự ngã thuyết pháp là điều mà Thế Tôn ân cần nhắc nhở cho những pháp sư nhất là trong thời mạt pháp phước mỏng nghiệp dày nhằm tránh tăng thượng mạn khi thuyết pháp. Pháp hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ trong Đại Bảo Tích Kinh là một ví dụ điển hình.
</div>
<div>Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ tiến lên bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Vừa rồi con tuyên nói bí yếu của đức Như Lai phải chăng không sai trái hủy báng đức Như Lai. Bí yếu của đức Như Lai là huyền diệu, rộng lớn không ngằn mé, thế gian khó tin được. Dầu nói bí yếu của đức Như Lai mà tâm con tự nhớ là trí huệ của đức Như Lai nhập trong thân con, chớ chẳng phải sức của con.’
</div>
<div>Đức Phật phán: “Đúng như vậy. Như lời của Mật Tích đã nói. Đạo huệ của đức Như Lai nhập vào chỗ nào thì không ai là chẳng được an ổn. Hàng đệ tử Phật ban tuyên kinh điển, đều nương nhờ oai thần của đức Như Lai” [2, trtr.380 -381].
</div>
<div>Ngay cả Bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ như Ngài Kim Cang Lực Sĩ còn xả bỏ tự ngã và nương nhờ đạo huệ và oai thần của đức Như Lai thuyết pháp huống là hạng phàm phu chúng ta.  Tương tự như vậy trong nhiều kinh điển đại thừa như Kinh Niệm Phật Ba-la-mật, Bố tát Phổ Hiền cũng nương vào oai thần của Phật Thích Ca mà tuyên bố công đức danh hiệu Phật như đoạn kinh sau:
</div>
<div>“Này Phật tử! nay tôi nương thần lực và lòng đại bi vô hạng của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, mà tuyên thuyết Công Đức Bất Khả Xưng Tán của sự chấp trì danh hiệu Phật” [3, tr.50].
</div>
<div>Nếu vì lòng thương và lợi ích chúng sanh mà thuyết pháp và không sanh niệm tham đắm hợp với đạo lý của chư Phật thì sẽ được các ngài âm thầm gia hộ để cho người thuyết pháp thuận lợi trong việc lập giáo án, tìm hiểu đối tượng thuyết pháp, cách sử dụng ngôn từ thích hợp vv… nhằm mang đến lợi ích thiết thực cho đối tượng nghe pháp.
</div>
<div>Nguyện đem công đức này</div>
<div>Hồi hương chúng sanh khắp pháp giới</div>
<div>Đồng sinh cõi Cực Lạc.
</div>
<div><strong>Tâm Tịnh</strong> cẩn tập</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://cungcohon.com/loi-phat-day-xa-bo-tu-nga-khi-thuyet-phap.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
